31/07/2019 - 08:56

Duy trì niềm tin, tận dụng cơ hội từ EVFTA 

Ngày 30-6-2019, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) đã được ký kết tại Hà Nội, được xem như một bước ngoặt quan trọng trong mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU. Sắp tới, EVFTA sẽ qua quá trình phê chuẩn của Quốc hội Việt Nam và Hội đồng châu Âu, chính thức có hiệu lực. Do đó, việc nhận diện những cơ hội và thách thức trước khi hiệp định EVFTA có hiệu lực sẽ góp phần định hướng chiến lược phù hợp và nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp khi Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.

Các chuyên gia chia sẻ thông tin về EVFTA tại một Hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Trung tâm Trọng tài Quốc tế (VIAC) tại Việt Nam phối hợp tổ chức.

Các chuyên gia chia sẻ thông tin về EVFTA tại một Hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Trung tâm Trọng tài Quốc tế (VIAC) tại Việt Nam phối hợp tổ chức.

Cơ hội-thách thức đan xen

EVFTA là một FTA thế hệ mới giữa Việt Nam và 28 nước thành viên EU. EVFTA cùng với CPTPP (Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) là 2 FTA có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao nhất của Việt Nam từ trước tới nay. Năm 2018, thương mại 2 chiều giữa Việt Nam và EU đạt 55,77 tỉ USD. Các mặt hàng chủ lực của Việt Nam xuất khẩu sang EU gồm: Điện thoại, linh kiện điện tử, giày dép, máy tính, thủy sản… Đối với ngành thủy sản, EU là thị trường lớn nhất chiếm 18% tổng giá trị xuất khẩu (kế tiếp là Hoa Kỳ 17% và Nhật Bản 16%). Theo ước lượng tăng trưởng dựa trên lợi ích EVFTA mang lại thì dự kiến đến năm 2025, kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang EU sẽ tăng 42,7%. Đồng thời, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận, đa dạng hóa các máy móc thiết bị nhập khẩu từ EU với giá tốt hơn, phục vụ cho hoạt động sản xuất, chế biến… giúp doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất toàn cầu.

Theo ông Nguyễn Phương Lam, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Chi nhánh Cần Thơ, bên cạnh những lợi ích mang lại, sẽ có những khó khăn, thách thức đối với doanh nghiệp ĐBSCL khi Hiệp định EVFTA được thực thi. Bởi lẽ, EU rất quan tâm đến hàng rào kỹ thuật trong thương mại, biện pháp an toàn thực phẩm, phòng vệ thương mại, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp thương mại... Trong đó, tiêu chuẩn về lao động và môi trường rất đáng quan tâm trong ngành thủy sản của vùng. Cũng theo nội dung hiệp định, chính quyền và doanh nghiệp phải tuân thủ các biện pháp bảo tồn, quản lý và khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản, cam kết trao đổi, hợp tác thông tin về các vấn đề liên quan đến việc kiểm soát, giám sát, thực thi các biện pháp quản lý nguồn lợi thủy hải sản một cách bền vững.

Theo khảo sát của Trung tâm WTO về các yếu tố cản trở doanh nghiệp hưởng lợi từ các FTA, có đến 84,09% doanh nghiệp được khảo sát cho biết mình thiếu thông tin về cam kết và cách thực hiện cam kết; 73,13% đánh giá quy tắc xuất xứ quá khó, 78,26% doanh nghiệp nhận định năng lực cạnh tranh thấp so với đối thủ… Tìm hiểu mức độ hiểu biết của doanh nghiệp về EVFTA cho thấy chỉ có 1,55% doanh nghiệp được khảo sát cho biết đã tìm hiểu tương đối kỹ, 21,14% đã từng tìm hiểu thông tin, trong khi có đến 65,29% doanh nghiệp có nghe nói nhưng chưa tìm hiểu gì và 12,02% nghe nói lần đầu về EVFTA. Theo ông Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), ở lĩnh vực dịch vụ-đầu tư, có những nhóm dịch vụ Việt Nam đã cam kết mở cửa hoàn toàn. Nhưng cũng có nhưng nhóm dịch vụ Việt Nam chưa cam kết mở cửa trong WTO, EVFTA, CPTPP. Nói như vậy không có nghĩa là doanh nghiệp ở nhóm dịch vụ chưa mở cửa hoàn toàn có thể yên tâm hơn mà phải hiểu rằng Chính phủ lùi thời hạn thực thi các cam kết để doanh nghiệp chủ động tranh thủ thời gian, tận dụng cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng thích ứng.

Chủ động tiếp cận thông tin

Ông Florian J Beranek, Chuyên viên Unido, Thành viên Eurocham, chia sẻ: Châu Âu là thị trường lớn và rất chú trọng đến các vấn đề về môi trường, chất lượng lao động, giá cả hàng hóa. Do đó, vấn đề quan trọng các doanh nghiệp cần quan tâm là tạo ra niềm tin trong mối quan hệ kinh doanh theo hướng rõ ràng, minh bạch, chân thành với các đối tác. Khách hàng châu Âu cần được duy trì niềm tin một cách vững chắc và lâu dài chứ không phải là những sản phẩm giá rẻ trong thời gian ngắn. Đồng thời, Chính phủ Việt Nam và doanh nghiệp sẽ phải giám sát chặt chẽ hơn nữa các vấn đề liên quan đến lạm dụng sức lao động trẻ em, ô nhiễm môi trường, giảm thiểu các chất thải gây hại cho môi trường trong quá trình sản xuất, quan tâm sử dụng năng lượng tái tạo…

EU cam kết xóa bỏ thuế quan ngay khi EVFTA có hiệu lực đối với hàng hóa của Việt Nam thuộc 85,6% số dòng thuế trong biểu thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU. Trong vòng 7 năm kể từ khi EVFTA có hiệu lực, EU cam kết xóa bỏ 99,2% số dòng thuế trong biểu thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và EU. Chia sẻ về lợi thế của ngành hàng cá tra, sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng, ông Trần Thanh Phong, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Cá tra Việt Nam, cho biết: Thời gian qua, con cá tra của Việt Nam xuất khẩu rất tốt sang thị trường châu Âu. Với EVFTA, ngành hàng cá tra sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan 0% sau 3 năm. Tháng 5-2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định 55/2017/NĐ-CP "Quản lý nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra" trong đó có nội dung quy định về việc cấp mã số nhận diện ao nuôi cá tra thương phẩm. Đây được xem là bước chuẩn bị chủ động và tạo thuận lợi cho việc truy xuất nguồn gốc xuất xứ hàng hóa cho sản phẩm cá tra. Đối với các rào cản khác như hàng rào kỹ thuật, môi trường nuôi cá tra, vấn đề lao động, các doanh nghiệp trong ngành hàng sẽ có những băn khoăn nhất định khi EVFTA được thực thi. Trong đó, vấn đề về bảo hộ người lao động cần phải được thảo luận sâu hơn để đáp ứng các yêu cầu, quy định chi tiết của Hiệp định.

Theo bà Hoàng Ngọc Oanh, Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại-Bộ Công thương, EVFTA là FTA thế hệ mới, có mức độ cam kết sâu, rộng, cơ chế thực thi chặt chẽ; bao gồm cả những lĩnh vực được coi là "phi truyền thống" như lao động, môi trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ, minh bạch hóa… Trong câu chuyện về xuất xứ hàng hóa, doanh nghiệp được tự chứng nhận xuất xứ, tự lựa chọn thông tin khai báo trong danh mục cho phép. Khi triển khai thực hiện, doanh nghiệp phải tạo dựng lòng tin với đối tác, tránh tình trạng một con sâu không chỉ làm rầu nồi canh mà còn ảnh hưởng đến cả nền sản xuất và các doanh nghiệp khác trong cùng ngành hàng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp thường thiếu thông tin về các FTA, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp ở nhiều lĩnh vực khác nhau sẽ có nhiều khác biệt nên phải chủ động tiếp cận thông tin để tranh thủ những cơ hội do FTA mang lại; thông qua việc đối thoại giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước, Hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng để tìm ra giải pháp tiếp cận phù hợp.

Bài, ảnh: MINH HUYỀN

Chia sẻ bài viết