Tại ĐBSCL, các mô hình dựa vào tự nhiên, tận dụng vật liệu nạo vét sông, rạch để chống xói lở bờ sông, bờ biển đang được thực hiện hiệu quả và cần được nhân rộng.

"Kè xanh" - Phát triển bãi bồi, trồng rừng phòng hộ, chống sạt lở bờ biển được triển khai thực hiện tại TP Cần Thơ.
ĐBSCL có hơn 50% chiều dài bờ biển bị xói lở
Ông Nguyễn Văn Thành ở phường An Bình, TP Cần Thơ, cho biết: “Trước đây, bờ sông Cái Sơn thuộc phường An Bình bị sạt lở nghiêm trọng. Có đoạn sạt lở hàng chục mét, nhiều nhà dân bị ảnh... Ngành chức năng TP Cần Thơ đã xây dựng và hoàn thành bờ kè kiên cố có lan can, vỉa hè tản bộ… ai cũng vui mừng, phấn khởi. Diện mạo đô thị thêm khang trang, hiện đại hơn”.
Kè sông Cái Sơn là một trong những công trình thuộc Dự án Phát triển TP Cần Thơ và tăng cường khả năng chống chịu của đô thị, do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ. WB cũng đang hỗ trợ nhiều chương trình phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) của Chính phủ Việt Nam tại ĐBSCL thông qua nhiều chương trình và dự án, trong đó có chương trình hỗ trợ kỹ thuật được tài trợ bởi Chương trình Hợp tác Úc - WB giai đoạn 2 (ABP2).
ABP2 cung cấp kiến thức và thông tin các chính sách, chương trình liên quan đến quy hoạch, điều phối, các dự án đầu tư về thích ứng với BĐKH và sinh kế bền vững tại ĐBSCL. Nghiên cứu “Các giải pháp dựa vào tự nhiên để quản lý vật liệu nạo vét và xói lở bờ biển ở ĐBSCL của Việt Nam” là một trong những hoạt động của chương trình. Nghiên cứu nhằm tìm kiếm các cơ hội tái sử dụng có lợi vật liệu nạo vét, đánh giá tính khả thi của việc áp dụng giải pháp sáng tạo dựa vào tự nhiên để nâng cao hiệu quả quản lý vật liệu nạo vét và tăng cường bảo vệ bờ biển theo hướng dài hạn, chiến lược và bền vững tại ĐBSCL. Một trong những phương án cụ thể đang được xem xét là sử dụng vật liệu nạo vét để bồi đắp bờ biển, giảm thiểu xói mòn. Nghiên cứu được thực hiện bởi liên danh Công ty TNHH Haskoning Việt Nam và Deltares (liên danh Haskoning và Deltares) đã hoàn thành giai đoạn đầu...
Theo liên danh Haskoning và Deltares, ĐBSCL có hơn 50% chiều dài bờ biển đang bị xói lở nghiêm trọng, với tốc độ từ 10-32m/năm. Lượng phù sa từ thượng nguồn đổ về đồng bằng cũng giảm mạnh, từ khoảng 160 triệu tấn/năm xuống còn khoảng 43 triệu tấn/năm do tác động của hệ thống đập thủy điện. Bên cạnh đó, tình trạng khai thác nước ngầm kéo dài khiến nền đất đồng bằng tiếp tục sụt lún, làm gia tăng nguy cơ sạt lở bờ sông, bờ biển.
Tại TP Cần Thơ hiện quản lý hệ thống thủy lợi với quy mô lớn với hơn 12.880km kênh rạch, 72km bờ biển, gần 668km đê bao, 889 cống, 292 trạm bơm điện và 1 hồ chứa nước phục vụ sản xuất, phòng chống thiên tai và phát triển đô thị. Thời gian qua, TP Cần Thơ chủ động triển khai nhiều giải pháp thích ứng với BĐKH; phối hợp chặt chẽ với bộ, ngành chức năng triển khai các dự án trọng điểm, nâng cao khả năng chống chịu và thích ứng tổng hợp cho vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư, hạ tầng thích ứng, năng lực dự báo và quản trị rủi ro thiên tai của thành phố vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Giải pháp từ vật liệu nạo vét
Theo nghiên cứu của liên danh Haskoning và Deltares, toàn vùng ĐBSCL hiện có khoảng 19.507km kênh đào chính, tổng khối lượng nạo vét giai đoạn 2015-2024 lên đến 68 triệu m³, tương đương khoảng 6,8 triệu m³ mỗi năm. Tuy nhiên, phần lớn lượng bùn nạo vét được đổ dọc bờ kênh hoặc tái bồi lắng trở lại lòng kênh, gây lãng phí. Nghiên cứu đưa ra 3 phương án được đánh giá có tiềm năng cao nhất tại ĐBSCL: nuôi bãi bùn ven biển, xây dựng “kè xanh” và san nền thông qua cơ chế đấu giá vật liệu nạo vét.
Đối với giải pháp nuôi bãi bùn ven biển, vật liệu nạo vét sẽ được vận chuyển bằng sà lan ra khu vực ven biển, sau đó bơm vào vùng triều phía sau đê chắn sóng để tạo bãi bồi, phục hồi cao trình bờ biển và tạo điều kiện cho rừng ngập mặn phát triển. Trong khi đó, mô hình “kè xanh” sử dụng vật liệu nạo vét kết hợp cây bản địa để bảo vệ bờ sông, bờ kênh được đánh giá phù hợp với những khu vực vừa có nhu cầu nạo vét, vừa xảy ra sạt lở…
Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh Cà Mau, cho biết: “Địa phương hiện có khoảng 14.000km kênh mương với nhu cầu nạo vét rất lớn nhưng lại thiếu nơi chứa bùn đất. Giải pháp “kè xanh” từng được phối hợp thực hiện thí điểm tại khu vực triều thấp và cho kết quả tích cực, giúp bảo vệ bờ và tạo điều kiện cho cây phát triển tốt. Tuy nhiên, ở khu vực đỉnh triều cao hoặc sóng lớn thì phát huy hiệu quả thấp”.
Theo nhóm nghiên cứu, để các giải pháp tái sử dụng vật liệu nạo vét có thể triển khai trên diện rộng, cần sớm hoàn thiện cơ chế pháp lý, xây dựng mô hình tài chính phù hợp và tích hợp quản lý trầm tích vào quy hoạch phát triển bền vững của toàn vùng ĐBSCL.
Tại hội nghị tham vấn các bên liên quan về các giải pháp dựa vào tự nhiên để quản lý vật liệu nạo vét và xói lở bờ biển ở ĐBSCL, đại diện WB cho biết sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện báo cáo và nghiên cứu một số mô hình phù hợp để hỗ trợ triển khai thí điểm trong thời gian tới tại ĐBSCL. Các chuyên gia cho rằng vật liệu nạo vét tại ĐBSCL có thể trở thành nguồn tài nguyên phục vụ chống sạt lở, phục hồi bờ biển và san lấp nền. Tuy nhiên cũng cần có cơ chế, tài chính và giải pháp hỗ trợ triển khai thực hiện của ngành chức năng từ Trung ương đến địa phương.
Bài, ảnh: HÀ VĂN