27/08/2026 - 15:28

Đưa lao động ra nước ngoài phải trở thành một kênh phát triển nguồn nhân lực 

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng đã chia sẻ về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng vừa được Quốc hội thông qua.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng. (Ảnh: Công Toán/TTXVN phát)

Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cần được nhìn như một kênh phát triển nguồn nhân lực: đi để làm việc, học hỏi, tích lũy kỹ năng và trở về đóng góp cho đất nước.

Đây là nhận định của Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng trong cuộc trao đổi với phóng viên Thông tấn xã Việt Nam về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng vừa được Quốc hội thông qua.

- Thưa Thứ trưởng, vì sao lần này Luật đặt mục tiêu ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua việc đưa người lao động ra nước ngoài?

Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng: Theo tôi, đây trước hết là một sự thay đổi về tư duy. Trước đây, khi nói đến đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, chúng ta thường nhấn mạnh đến việc làm, thu nhập, giảm nghèo. Cách nhìn ấy đúng, nhưng chưa đủ.

Lần này, Luật xác định rõ hơn một mục tiêu: đưa người lao động ra nước ngoài cũng là một kênh đào tạo, tích lũy và phát triển nguồn nhân lực quốc gia.Khoản 2 Điều 1 Luật số 22/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 Luật số 69/2020/QH14 đã xác định chính sách ưu tiên đưa người lao động đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài nhằm nâng cao thu nhập, tiếp cận công nghệ, quản trị hiện đại, rèn luyện kỹ năng, ngoại ngữ, kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp.

Điều này rất quan trọng trong bối cảnh đất nước đang đặt yêu cầu cao về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động.

Một người lao động có trình độ, kỹ năng nghề khi làm việc trong môi trường sản xuất hiện đại ở nước ngoài có thể tiếp cận những công nghệ, quy trình sản xuất, phương thức quản trị, rèn luyện ngoại ngữ, kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp mà đào tạo trong nước chưa thể thay thế. Khi trở về, những gì họ tích lũy được trở thành một phần của nguồn nhân lực phục vụ nền kinh tế trong nước.

Vì vậy, chúng ta không nên chỉ nhìn vào số người đi, mà phải nhìn vào giá trị mà mỗi người có thể mang về.

Đây cũng là lý do Luật lần này không dừng ở chính sách ưu tiên khi người lao động ra nước ngoài, mà đặt thêm vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sau khi họ về nước, trong đó có kết nối thông tin việc làm với thị trường lao động trong nước.

Đồng thời có cơ chế, chính sách đặc thù đối với một số ngành, nghề yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật hoặc lĩnh vực Nhà nước ưu tiên phát triển bảo đảm tính linh hoạt theo từng thời kỳ.

Nếu thực hiện tốt, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài sẽ không còn là một dòng chảy một chiều. Người lao động đi để làm việc, học hỏi, tích lũy và sau đó trở về; tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm và nguồn vốn theo họ trở về với nền kinh tế.

Đó chính là cách chúng ta biến lao động ngoài nước thành một mắt xích hữu cơ trong tổng thể chiến lược đào tạo, phát triển, sử dụng nguồn nhân lực quốc gia.

Lao động Việt Nam làm thủ tục nhập cảnh tại sân bay Incheon, Hàn Quốc. (Ảnh: Mạnh Hùng/TTXVN)

Hiện Bộ Nội vụ đang nghiên cứu, xây dựng Chiến lược về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, bảo đảm phù hợp với Chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia và định hướng ngoại giao kinh tế.

Cơ quan quản lý cũng đang tiếp tục nghiên cứu việc công nhận trình độ, kỹ năng nghề và hồ sơ kỹ năng của người lao động gắn với chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, để mỗi giai đoạn làm việc ở nước ngoài đều được ghi nhận, tích lũy thành năng lực nghề nghiệp có giá trị lâu dài của người lao động.

- Trong nước cũng đang thiếu nhân lực chất lượng cao. Làm thế nào để đưa người giỏi ra nước ngoài không trở thành “chảy máu” nhân lực?

Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng: Tôi nghĩ nỗi lo lớn hơn không phải là “chảy máu” nhân lực, mà là lãng phí nhân lực.

Bởi đây là hoạt động đưa người lao động đi làm việc có thời hạn, trên cơ sở hợp đồng. Mục tiêu của chính sách không phải đưa người có trình độ ra nước ngoài rồi để họ ở lại, mà là tạo điều kiện để họ có thêm kỹ năng, ngoại ngữ, kinh nghiệm và tiếp cận công nghệ, sau đó trở về.

Nếu một kỹ sư, một công nhân kỹ thuật hay một lao động có tay nghề sau vài năm làm việc trong môi trường công nghệ cao trở về với trình độ tốt hơn rất nhiều so với trước khi đi, thì xét về trung và dài hạn, nguồn nhân lực của đất nước được nâng lên chứ không phải bị mất đi. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta đưa người đi mà không tính đến nhu cầu nhân lực trong nước. Đây là bài toán phải được cân đối trong tổng thể chiến lược nhân lực quốc gia.

Chính phủ đã giao Bộ Nội vụ nghiên cứu, xây dựng Chiến lược về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Trong đó, việc xác định số lượng, cơ cấu và thị trường trọng điểm phải được đặt trong tương quan với nhu cầu nhân lực trong nước và nhu cầu của những ngành nghề trọng điểm trong từng thời kỳ. Nhưng chỉ cân đối số lượng thôi chưa đủ. Muốn người lao động trở về, phải có sức hút ở phía trong nước.

Tinh thần chỉ đạo tại Thông báo số 123-TB/VPTW rất rõ: kỹ năng, vốn, ngoại ngữ, tác phong tích lũy ở nước ngoài phải được công nhận, sử dụng, lan tỏa, không để lãng phí; lao động về nước phải được kết nối với doanh nghiệp, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, chương trình khởi nghiệp. Thực tiễn đã chứng minh hướng đi này: lực lượng lao động hồi hương từ Nhật Bản, Hàn Quốc đang là nguồn lực quan trọng của ngành công nghiệp hỗ trợ; xu hướng "hồi hương khởi nghiệp" hình thành rõ nét ở nhiều địa phương, tạo thêm việc làm cho cộng đồng.

Luật lần này đã đặt vấn đề kết nối thông tin việc làm của người lao động về nước với thị trường lao động trong nước; đồng thời định hướng có cơ chế, chính sách để thu hút, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực này.

Tôi cho rằng phải làm sao để người lao động nhìn thấy rõ: những gì họ học được ở nước ngoài có giá trị khi trở về; kỹ năng của họ được công nhận; doanh nghiệp trong nước cần họ; họ có cơ hội việc làm, phát triển nghề nghiệp.

Giữ chân người có năng lực không thể chỉ bằng một quy định hành chính. Phải tạo ra cơ hội và môi trường để họ muốn trở về và có thể phát huy những gì đã học được.

Ở góc độ đó, đưa người lao động ra nước ngoài làm việc có thể trở thành một “vòng tuần hoàn lao động,” thay vì một dòng chảy nhân lực một chiều.

Người lao động đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài sẽ có cơ hội tiếp cận với các thị trường, lĩnh vực ngành, nghề có mức thu nhập cao và qua đó, mang lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững hơn so với người lao động có chuyên môn thấp hoặc lao động phổ thông đi làm việc ở nước ngoài. Điều này sẽ tạo nên nhận thức mới cho người lao động cần phải trang bị kiến thức chuyên môn trước khi tham gia thị trường lao động.

- Theo ông, việc chuyển từ tiêu chí ưu tiên “ngành nghề Việt Nam có thế mạnh” sang “lĩnh vực Nhà nước ưu tiên phát triển” có phải là bước chuyển sang chủ động “đặt hàng” nguồn nhân lực cho các ngành chiến lược?

Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng: Tôi cho rằng nhận định này phản ánh khá đúng tinh thần của quy định mới. Luật hiện hành quy định cơ chế đặc thù đối với những ngành, nghề có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hoặc Việt Nam có ưu thế. Cách tiếp cận này chủ yếu xuất phát từ những lợi thế chúng ta đang có, mang tính thụ động.

Còn quy định mới chuyển sang “ngành, nghề, công việc yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật hoặc lĩnh vực Nhà nước ưu tiên phát triển” " - tức là xuất phát từ định hướng phát triển của quốc gia, mang tính chủ động. Đây là một bước chuyển từ việc khai thác lợi thế sẵn có sang chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực cho những lĩnh vực đất nước sẽ cần. Nói một cách dễ hiểu, trước đây chúng ta có thể nhìn xem thị trường đang cần gì và lao động Việt Nam có thế mạnh ở đâu để đưa đi.

Còn nay, Nhà nước có thể nhìn xa hơn: đất nước sẽ phát triển những ngành nào, những ngành đó cần loại nhân lực nào, và chúng ta có thể chuẩn bị nguồn nhân lực ấy thông qua quá trình đào tạo, làm việc ở nước ngoài như thế nào.

Chính sách được thiết kế theo hai chiều: tạo điều kiện để người lao động được đào tạo, làm việc, tích lũy kinh nghiệm ở nước ngoài và khi trở về phải có cơ chế để thu hút, sử dụng họ.

Danh mục lĩnh vực ưu tiên phải có tính linh hoạt để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội từng giai đoạn kỳ - hôm nay có thể là công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ số, bán dẫn, logistics, nông nghiệp công nghệ cao; ngày mai có thể là những lĩnh vực mới theo định hướng của Đảng và Nhà nước.

Tôi muốn nhấn mạnh là việc "đặt hàng" này được thực hiện đồng bộ với công cụ chiến lược và ngoại giao kinh tế. Chiến lược về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài sẽ xác định cơ cấu thị trường trọng điểm gắn với các lĩnh vực ưu tiên; công tác đàm phán, ký kết thỏa thuận hợp tác lao động với các nước được gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ ngoại giao kinh tế, ưu tiên mở các chương trình tiếp nhận lao động kỹ năng cao, có cơ chế đào tạo-làm việc -công nhận trình độ.

Như vậy, việc đưa lao động ra nước ngoài không chỉ là đáp ứng một đơn hàng lao động trước mắt, mà từng bước chủ động kiến tạo dòng lao động kỹ năng phục vụ các ngành chiến lược của đất nước trong tương lai.

- Nếu coi lao động ngoài nước là một “kênh đào tạo nhân lực,” làm thế nào để những kỹ năng tích lũy ở nước ngoài thực sự trở thành nguồn lực khi họ trở về, thưa Thứ trưởng?

Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng: Muốn vậy, phải thiết kế cả “đầu vào, quá trình và đầu ra” của việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Ngay từ trước khi đi, việc chuẩn bị nguồn, đào tạo nghề, ngoại ngữ và giáo dục định hướng phải gắn với yêu cầu của từng thị trường, từng ngành nghề.

Chúng ta phải hướng người lao động tới những công việc mà ở đó họ thực sự có thể nâng cao tay nghề, tiếp cận công nghệ và phương thức sản xuất tiên tiến, chứ không chỉ đơn thuần cung cấp sức lao động.

Trong quá trình làm việc ở nước ngoài, kỹ năng của người lao động cũng cần được ghi nhận và tích lũy. Mỗi người lao động được quản lý bằng mã số trên cơ sở dữ liệu chuyên ngành; toàn bộ quá trình làm việc, ngành, nghề, vị trí, thời gian, thị trường được lưu trữ, thống kê.

Bộ Nội vụ đang tiếp tục nghiên cứu việc công nhận trình độ, kỹ năng nghề và hồ sơ kỹ năng của người lao động gắn với chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, để mỗi giai đoạn làm việc ở nước ngoài đều được ghi nhận thành năng lực nghề nghiệp có giá trị lâu dài.

Tôi cho rằng điều này rất quan trọng. Người lao động trở về không chỉ mang theo tiền tiết kiệm, mà phải mang theo một “tài sản kỹ năng” được nhận diện và có giá trị trên thị trường lao động trong nước. Nhưng công nhận kỹ năng mới chỉ là một nửa câu chuyện. Nửa còn lại là có nơi sử dụng kỹ năng đó hay không.

Luật lần này bổ sung chính sách tăng cường kết nối thông tin việc làm của người lao động về nước với thị trường lao động trong nước. Cùng với đó là việc kết nối cơ sở dữ liệu về người lao động đi làm việc ở nước ngoài với dữ liệu thị trường lao động. Khi có dữ liệu, chúng ta có thể biết một người lao động sắp trở về có kỹ năng gì, đã làm việc ở đâu, bao lâu, trong ngành nghề nào. Trung tâm dịch vụ việc làm, địa phương và doanh nghiệp có thể chủ động kết nối họ với những vị trí phù hợp.

Ví dụ, một lao động từng làm việc tại Nhật Bản hoặc Hàn Quốc, biết ngoại ngữ, quen với công nghệ, quy trình sản xuất và tác phong công nghiệp, nếu được kết nối đúng với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp FDI, công nghiệp hỗ trợ, thì những kỹ năng ấy có thể chuyển hóa thành giá trị ngay trong nền kinh tế.

Vì vậy, tôi cho rằng đi làm việc ở nước ngoài chỉ thực sự trở thành một kênh đào tạo khi những gì người lao động học được được ghi nhận, được sử dụng và tiếp tục được phát triển sau khi họ trở về.

Lao động Việt Nam chuẩn bị đi làm việc ở nước ngoài. (Ảnh: PV/Vietnam+)

- Làm thế nào để những kỹ năng tích lũy ở nước ngoài được sử dụng hiệu quả khi người lao động trở về, tránh lãng phí chất xám?

Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng: Điểm mới quan trọng là câu chuyện sau khi người lao động về nước đã được nâng lên thành một nội dung chính sách của Nhà nước, chứ không còn chỉ là việc hỗ trợ mang tính tác nghiệp.

Luật quy định tăng cường kết nối thông tin việc làm của người lao động về nước với thị trường lao động trong nước nhằm phát huy, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực có kỹ năng nghề. Điều đó tạo cơ sở để các bộ, ngành, địa phương và các chủ thể liên quan cùng tham gia vào quá trình này. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh một điều: không thể kết nối chung chung. Kết nối phải đến được đúng người, đúng việc.

Nếu có dữ liệu về quá trình làm việc của người lao động, các trung tâm dịch vụ việc làm và địa phương có thể chủ động nhận diện kỹ năng, kinh nghiệm của từng người để giới thiệu đến những doanh nghiệp có nhu cầu.

Cùng với đó, phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế công nhận trình độ, kỹ năng nghề để doanh nghiệp trong nước có căn cứ tuyển dụng và trả lương tương xứng. Những người có nhu cầu khởi nghiệp cũng cần được tiếp cận các cơ chế hỗ trợ phù hợp. Thực tế cho thấy nhiều lao động trở về từ Nhật Bản, Hàn Quốc đã tham gia vào ngành công nghiệp hỗ trợ, hoặc sử dụng vốn, kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy được để khởi nghiệp thành công, tạo thêm việc làm cho cộng đồng. Đó là những tín hiệu rất đáng khích lệ.

Và để việc này thành công, trách nhiệm không thuộc riêng Bộ Nội vụ. Bộ có trách nhiệm xây dựng thể chế, dữ liệu và điều phối; địa phương phải chủ động kết nối, hỗ trợ khởi nghiệp; doanh nghiệp dịch vụ cũng phải có trách nhiệm đồng hành với người lao động sau khi hoàn thành hợp đồng. Khi cả hệ thống cùng vào cuộc, mỗi người lao động trở về sẽ thực sự là một "sứ giả kỹ năng" lan tỏa giá trị cho nền kinh tế.

Tôi vẫn muốn nhắc lại: nỗi lo lớn hơn không phải là chảy máu chất xám, mà là lãng phí chất xám.

Một người lao động trở về với tay nghề, ngoại ngữ, kinh nghiệm, vốn và tác phong mới nhưng không tìm được công việc phù hợp thì đó là sự lãng phí rất lớn.

- Trước yêu cầu ngày càng cao về tay nghề, ngoại ngữ của các thị trường tiếp nhận, Nhà nước sẽ chuẩn bị gì để nhóm lao động phổ thông không bị bỏ lại phía sau?

Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng: Trước hết, cần khẳng định rõ: “ưu tiên” không phải là “rào cản.” Việc ưu tiên người lao động đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật không có nghĩa là thu hẹp cơ hội của lao động phổ thông hay lao động chưa qua đào tạo. Ngược lại, đây cũng là động lực để người lao động chủ động nâng cao kỹ năng, trình độ, vừa đáp ứng thị trường quốc tế, vừa nâng cao vị thế ngay trên thị trường lao động trong nước.

Vì vậy, chính sách không phải là lựa chọn giữa lao động chất lượng cao và lao động phổ thông, mà là nâng mặt bằng chất lượng của lực lượng lao động Việt Nam.

Nhà nước tiếp tục có các chính sách hỗ trợ về đào tạo nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng; hỗ trợ về tín dụng để người lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài không bị hạn chế cơ hội chỉ vì khó khăn tài chính. Chính nhóm lao động phổ thông được hưởng lợi nhiều nhất từ các quy định bảo vệ mới.

Các quy định về chuẩn bị nguồn lao động, minh bạch các khoản thu, giám sát hoạt động tuyển chọn tại địa phương và kiểm soát việc thu tiền đào tạo là những “lá chắn” quan trọng cho nhóm dễ bị tổn thương trước nạn lừa đảo, thu phí bất chính.

Mục tiêu cuối cùng là người lao động, dù xuất phát điểm khác nhau, đều có cơ hội nâng cao năng lực và tiếp cận thị trường lao động quốc tế một cách an toàn, minh bạch.

- Theo ông, đâu sẽ là thước đo thành công của chính sách này trong những năm tới?

Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng: Tôi nghĩ không thể chỉ đo bằng số người được đưa đi. Chúng ta cần nhìn vào chất lượng của dòng lao động đó: tỷ lệ lao động đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng lên như thế nào; lao động Việt Nam đang làm những ngành nghề gì, ở những thị trường nào, thu nhập ra sao và quan trọng nhất là họ học được gì trong quá trình làm việc ở nước ngoài.

Một thước đo nữa là quyền lợi và sự an toàn của người lao động. Chi phí người lao động phải trả trước khi xuất cảnh giảm; số vụ lừa đảo, thu phí trái quy định giảm; tỷ lệ lao động vi phạm hợp đồng, cư trú bất hợp pháp giảm; các vụ việc phát sinh ở nước ngoài được phát hiện, hỗ trợ và xử lý kịp thời. Một chính sách thành công trước hết phải là một chính sách mà người lao động được bảo vệ tốt hơn.

Nhưng với tinh thần của lần sửa Luật này, theo tôi, thước đo quan trọng nhất nằm ở phía sau ngày người lao động trở về.

Có bao nhiêu người tìm được việc làm phù hợp với kỹ năng đã tích lũy? Có bao nhiêu người tham gia vào những ngành kinh tế mà đất nước đang cần? Bao nhiêu người sử dụng vốn, kinh nghiệm để khởi nghiệp thành công? Bao nhiêu người trở thành lực lượng đào tạo, truyền lại kỹ năng cho những lao động khác?

Nếu những con số đó tăng lên, nghĩa là “vòng tuần hoàn lao động” đang thực sự vận hành: người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tích lũy kỹ năng và kinh nghiệm, trở về, được sử dụng hiệu quả và tiếp tục tạo ra giá trị cho nền kinh tế. Xét đến cùng, thước đo cao nhất chính là sự hài lòng, thu nhập và vị thế của từng người lao động Việt Nam - ở nước ngoài được tôn trọng, khi trở về được trọng dụng.

- Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng./.

Chu Thanh Vân (TTXVN/Vietnam+)

Chia sẻ bài viết

Link gốc: https://www.vietnamplus.vn/dua-lao-dong-ra-nuoc-ngoai-phai-tro-thanh-mot-kenh-phat-trien-nguon-nhan-luc-post1132867.vnp