Thông tư số 89/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về kiểm tra, đánh giá học sinh phổ thông và dự thảo quy định về tiếp nhận học sinh đầu cấp đều hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục, bảo đảm đánh giá thực chất và mở rộng cơ hội học tập.

Ông Thái Văn Tài, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo phát biểu tại Hội nghị tổng kết năm học 2025-2026. Ảnh: NM
Việc triển khai Thông tư cần bám sát quy định, phù hợp điều kiện thực tế, đồng thời tránh tạo thêm áp lực hoặc thủ tục không cần thiết cho học sinh, gia đình và nhà trường. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Thái Văn Tài, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo về những nội dung này.
Thưa ông, Thông tư số 89 quy định tổ chức kiểm tra chung ở một số môn học đối với học sinh lớp 5, lớp 9 và lớp 12 nhằm giải quyết những vấn đề gì trong công tác kiểm tra, đánh giá hiện nay?
Thông tư số 89 sửa đổi, bổ sung một số quy định về đánh giá học sinh tiểu học và học sinh trung học tại các Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT và số 22/2021/TT-BGDĐT. Tinh thần xuyên suốt là đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh, coi kiểm tra, đánh giá là một bộ phận gắn bó với quá trình dạy học, giúp giáo viên và nhà trường nhận diện đúng mức độ đạt được của học sinh để điều chỉnh cách dạy, cách học.
Điểm cần nhấn mạnh là kiểm tra, đánh giá không chỉ nhằm ghi nhận kết quả tại một thời điểm, mà còn cung cấp thông tin để cải thiện chất lượng dạy và học. Việc tổ chức kiểm tra định kỳ chung đối với một số môn học ở các lớp cuối cấp theo quy định của Thông tư tạo điều kiện để địa phương thực hiện thống nhất hơn về yêu cầu, ma trận và cấu trúc đề kiểm tra; qua đó hỗ trợ đánh giá kết quả học tập khách quan, có căn cứ và có thể sử dụng để điều chỉnh hoạt động giáo dục.
Việc tổ chức kiểm tra chung không có nghĩa là mọi học sinh đều giống nhau hoặc chỉ dựa vào một bài kiểm tra để đánh giá toàn diện năng lực của các em. Kết quả kiểm tra cần được xem xét trong tổng thể quá trình học tập và thực hiện đúng mục đích đánh giá. Điều quan trọng là đề kiểm tra phải phù hợp yêu cầu cần đạt của chương trình, phản ánh được mức độ học sinh đạt được, đồng thời giúp nhà trường nhận ra những nội dung cần tiếp tục hỗ trợ.
Thông tư cũng đề cập đến kiểm tra, đánh giá trên máy tính. Việc triển khai sẽ được thực hiện như thế nào để bảo đảm khách quan, minh bạch, thưa ông?
Ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá là hướng đi cần thiết, nhưng phải được triển khai phù hợp với điều kiện thực tế và có lộ trình. Việc tổ chức kiểm tra trên máy tính có thể hỗ trợ rút ngắn thời gian xử lý kết quả ở những khâu phù hợp, tăng khả năng lưu trữ, tổng hợp dữ liệu và giúp các khâu tổ chức được theo dõi, kiểm soát tốt hơn.
Tuy nhiên, công nghệ không tự động bảo đảm chất lượng nếu thiếu chuẩn bị. Địa phương và cơ sở giáo dục cần quan tâm đến hạ tầng kỹ thuật, thiết bị, đường truyền, an toàn thông tin, quy trình tổ chức, phương án hỗ trợ học sinh và xử lý tình huống phát sinh. Việc triển khai cần tuân thủ quy định, phù hợp năng lực đáp ứng của từng địa bàn; không để điều kiện công nghệ tạo ra bất lợi cho học sinh.
Kiểm tra định kỳ trên máy tính cũng có thể góp phần tích lũy kinh nghiệm về tổ chức, kỹ thuật và quản lý dữ liệu cho các kỳ đánh giá quy mô lớn hơn trong tương lai. Tuy nhiên, đây là quá trình cần chuẩn bị thận trọng, từng bước; không nên hiểu rằng việc áp dụng kiểm tra trên máy tính đồng nghĩa với việc mọi kỳ thi sẽ chuyển ngay sang hình thức này.

Lớp học ứng dụng AI tại Trường THCS Chu Văn An (phường Kim Bảng, tỉnh Ninh Bình). Ảnh: Nguyễn Lành/TTXVN
Ông có chia sẻ gì về những điểm mới trong quy định về tiếp nhận học sinh đầu cấp, đặc biệt là tinh thần giảm áp lực thi cử và bảo đảm cơ hội học tập cho học sinh?
Theo Thông tư ban hành Quy chế tiếp nhận học sinh đầu cấp giáo dục phổ thông được xây dựng trên cơ sở kế thừa những quy định phù hợp của Thông tư số 30/2024/TT-BGDĐT, đồng thời điều chỉnh cách tiếp cận để phù hợp hơn với yêu cầu đổi mới quản trị giáo dục, chuyển đổi số và tổ chức chính quyền địa phương hiện nay.
Điểm mới cốt lõi thể hiện ở việc chuyển trọng tâm từ quy định hoạt động “tuyển sinh” sang tổ chức “tiếp nhận học sinh đầu cấp”. Nói một cách giản dị, quản lý giáo dục không chỉ dừng ở việc tổ chức một quy trình để xét học sinh vào trường, mà phải chủ động dự báo số lượng trẻ em, xác định nhu cầu học tập, chuẩn bị trường lớp, đội ngũ và các điều kiện cần thiết để bố trí chỗ học phù hợp.
Quy định này mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với lớp 1, lớp 6 và lớp 10. Với lớp 1, dự thảo quy định không thực hiện kiểm tra, đánh giá, phân loại hoặc tuyển chọn. Với lớp 6, nguyên tắc chung là tiếp nhận học sinh hoàn thành chương trình tiểu học theo địa bàn, không phân loại, tuyển chọn, trừ trường hợp đặc thù được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ theo quy định. Những quy định này nhằm làm rõ trách nhiệm bảo đảm cơ hội học tập, nhất là ở các cấp học gắn với phổ cập và giáo dục bắt buộc.
Đối với lớp 10, dự thảo tiếp tục duy trì các phương thức xét tuyển, thi tuyển hoặc kết hợp thi tuyển với xét tuyển. Điểm định hướng đáng chú ý là chỉ tổ chức thi tuyển khi số học sinh đăng ký vượt khả năng tiếp nhận và không thể giải quyết bằng phương án điều phối, phân bổ phù hợp. Nếu phải tổ chức thi tuyển, dự thảo quy định hai môn Toán và Ngữ văn. Mục tiêu là giảm áp lực thi cử không cần thiết, nhưng vẫn bảo đảm việc tổ chức tiếp nhận phù hợp điều kiện thực tế và kế hoạch của địa phương.
Cần nhấn mạnh rằng dự thảo không có nghĩa là xóa bỏ mọi hình thức thi tuyển, cũng không đồng nghĩa mọi học sinh đương nhiên được vào trường cụ thể theo nguyện vọng. Mục tiêu là mở rộng cơ hội học tập, đồng thời yêu cầu địa phương chủ động tổ chức mạng lưới trường lớp và lựa chọn phương thức tiếp nhận phù hợp với quy định.
Thưa ông, ông hãy cụ thể hóa nội dung việc bố trí học sinh theo địa bàn và điều phối khi trường vượt khả năng tiếp nhận học sinh?
Bố trí học sinh theo địa bàn cư trú, tạo điều kiện để các em học gần nhà là một định hướng quan trọng. Tuy nhiên, việc bố trí cần được xem xét cùng các yếu tố thực tế như số lượng học sinh, khả năng tiếp nhận của từng trường, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, khoảng cách và điều kiện đi lại. Vì vậy, không nên hiểu quy định này là mọi học sinh đương nhiên được vào đúng trường gần nhà nhất.
Điểm mới là dự thảo đặt việc tiếp nhận trong kế hoạch tổng thể của địa phương và bổ sung cơ chế phân bổ, điều phối học sinh khi một trường hoặc điểm trường vượt khả năng tiếp nhận. Việc điều phối nhằm bảo đảm chỗ học và sử dụng hợp lý năng lực của mạng lưới trường lớp; không được dùng như một hình thức tuyển chọn hoặc loại học sinh đã đáp ứng điều kiện tiếp nhận.
Trách nhiệm được đặt ra đối với từng cấp, từng đơn vị theo chức năng và thẩm quyền. UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm chung về kế hoạch trên địa bàn; Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu, hướng dẫn, tổ chức thực hiện và phối hợp điều phối theo thẩm quyền; UBND cấp xã thực hiện các nhiệm vụ được giao đối với lớp 1, lớp 6; cơ sở giáo dục trực tiếp tổ chức tiếp nhận theo kế hoạch được phê duyệt, theo dõi tình hình và báo cáo khi phát sinh khó khăn.
Cơ chế này cũng có ý nghĩa đối với hoạch định chính sách phát triển giáo dục. Dữ liệu về trẻ trong độ tuổi, quy mô học sinh và khả năng tiếp nhận sẽ giúp địa phương xác định rõ hơn nhu cầu trường lớp, đội ngũ, cơ sở vật chất và phương án phát triển mạng lưới trong từng giai đoạn. Như vậy, việc tiếp nhận học sinh không chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt mà còn hỗ trợ quản lý và đầu tư giáo dục dài hạn.
Trân trọng cảm ơn ông!
Lê Vân/Báo Tin tức và Dân tộc