29/10/2026 - 14:36

Bà Triệu Thị Ngọc Diễm, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Đất đai (sửa đổi) 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, sáng 29-10, Quốc hội thảo luận ở hội trường. Bà Triệu Thị Ngọc Diễm, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Đất đai (sửa đổi).

Bà Triệu Thị Ngọc Diễm phát biểu trong phiên thảo luận ở hội trường sáng 29-10.

Dự thảo Luật Đất đai được trình đã góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý đất đai, tháo gỡ vướng mắc, phát huy nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả sử dụng đất bền vững. Qua quá trình nghiên cứu dự thảo Luật cùng các văn bản được trình có liên quan, đặc biệt là báo cáo tổng hợp ý kiến tại phiên họp tổ về dự án luật sửa đổi, đại biểu góp ý 4 nội dung cụ thể sau:

1. Về phục hồi sinh kế và theo dõi đời sống sau thu hồi đất.

Khoản 5, Điều 41 và Điều 46 đã xác định trách nhiệm bảo đảm sinh kế, yêu cầu điều tra thu nhập trước khi phê duyệt phương án, nhưng chưa rõ cơ chế, trách nhiệm liên quan. Đối với hộ trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản hoặc kinh doanh nhỏ, thu nhập biến động theo mùa vụ. Chỉ ghi nhận tại một thời điểm có thể không phản ánh đúng mức sống và mức độ phụ thuộc vào phần đất bị thu hồi.

Điều 102 dự thảo Nghị định hướng dẫn đã quy định một khoản hỗ trợ bằng tiền gắn với giá đất nông nghiệp, bên cạnh chính sách đào tạo, chuyển đổi nghề tại Điều 103.

Bên cạnh các biện pháp cần thiết để hỗ trợ người bị thu hồi đất có việc làm, thu nhập ổn định, đại biểu kiến nghị: 

(1) Bổ sung vào Điều 46 một khoản quy định: “Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải xác định các trường hợp bị mất hoặc giảm đáng kể thu nhập do thu hồi đất và biện pháp phục hồi sinh kế phù hợp. Nội dung phục hồi sinh kế phải có kinh phí, thời gian thực hiện, cơ quan chịu trách nhiệm và chỉ tiêu đánh giá kết quả; được lấy ý kiến người bị ảnh hưởng và phê duyệt đồng thời với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.”.

(2) Bổ sung vào khoản 5, Điều 41 trách nhiệm của UBND cấp tỉnh tổ chức theo dõi, đánh giá việc làm, thu nhập và điều kiện sống sau thu hồi đất; chỉ đạo thực hiện hoặc đề xuất hỗ trợ bổ sung khi người dân chưa ổn định được sinh kế do tác động trực tiếp của việc thu hồi đất. Chính phủ quy định thời gian theo dõi, phương pháp đánh giá và cơ chế phối hợp, trong đó cần có sự tham gia của người bị ảnh hưởng. Việc điều tra thu nhập phải phản ánh chu kỳ sản xuất, kinh doanh; sử dụng nhiều nguồn chứng cứ phù hợp, không chỉ căn cứ vào hóa đơn hoặc chứng từ thuế. Cách làm này đặc biệt cần thiết đối với sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản.

(3) Tại khoản 1, Điều 46, đề nghị giao Chính phủ quy định hỗ trợ phù hợp đối với người trực tiếp lao động, thuê đất, thuê mặt bằng hợp pháp bị mất việc hoặc mất nguồn thu do thu hồi đất. Đối tượng này có thể không thuộc diện được bồi thường quyền sử dụng đất, nhưng thiệt hại về sinh kế cần được xem xét trên cơ sở có thật, có chứng cứ và không trùng với khoản đã được hỗ trợ.

2. Về bồi thường tài sản và chi phí khôi phục hoạt động sản xuất.

Dự thảo tại khoản 1 và khoản 3, Điều 45 quy định đơn giá bồi thường tài sản phù hợp thực tế, được điều chỉnh khi biến động và bổ sung chi phí tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt. Tuy nhiên, cần làm rõ cách bồi thường tài sản đặc thù chưa có trong bộ đơn giá và có hệ thống liên kết như điện, cấp thoát nước, xử lý nước, thiết bị nuôi trồng thủy sản, bảo đảm khôi phục đồng bộ khả năng sản xuất sau di dời. Từ thực tế trên, đại biểu có 2 đề xuất:

(1) Tại điểm c, khoản 1, Điều 45, đề nghị bổ sung cơ chế xác định giá trị đối với tài sản hợp pháp chưa có đơn giá hoặc đơn giá không còn phù hợp, trên cơ sở khảo sát, xác định khối lượng, chất lượng và chi phí thực tế hợp lý; được thẩm định, giải trình và phê duyệt cùng phương án bồi thường.

(2) Tại khoản 3, Điều 45, đề nghị bổ sung chi phí hợp lý để đấu nối, lắp đặt và khôi phục công năng tương đương của hệ thống phải di dời.

3. Về giới hạn và cơ chế kiểm soát tỷ lệ bồi thường.

Điểm e, khoản 2, Điều 72 giao UBND cấp tỉnh quy định thêm một tỷ lệ trực tiếp ảnh hưởng đến số tiền bồi thường theo từng loại đất. Trong khi HĐND quyết định bảng giá đất và hệ số. Nếu không làm rõ chức năng của từng yếu tố thì cùng 1 điều kiện về giá đất có thể bị điều chỉnh nhiều lần; người dân khó kiểm tra vì sao giá trị được nhận tăng hoặc giảm.

Do đó, kiến nghị xem xét, sửa điểm e, khoản 2, Điều 72 theo hướng: “UBND cấp tỉnh quy định tỷ lệ bồi thường theo từng loại đất trong phạm vi, nguyên tắc và tiêu chí do Chính phủ quy định; bảo đảm công khai, có đánh giá tác động và chịu sự giám sát của HĐND cấp tỉnh. Đối với phần diện tích, quyền sử dụng đất đủ điều kiện được bồi thường đầy đủ, việc áp dụng tỷ lệ không được làm giảm giá trị bồi thường được xác định theo bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất.”.

Đồng thời, đề nghị cơ quan soạn thảo giải trình rõ mục đích của tỷ lệ này. Nếu nhằm phản ánh chênh lệch giá thì phải xử lý quan hệ với hệ số điều chỉnh; nếu nhằm hỗ trợ thêm thì cần phân định với chính sách hỗ trợ. Không nên sử dụng khả năng cân đối kinh phí của từng dự án hay căn cứ “phù hợp với tình hình thực tế” làm tiêu chí.

4. Về chính sách chuyển tiếp (tại khoản 2 và khoản 3, Điều 110 dự thảo).

Dự thảo cho phép UBND cấp tỉnh lựa chọn chính sách áp dụng đối với phần diện tích chưa phê duyệt phương án trong dự án chuyển tiếp và được quyền lựa chọn giữa thực hiện phương án đã phê duyệt hay lập lại phương án theo Luật mới đối với trường hợp đã có quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án nhưng chưa triển khai.

Quyền lựa chọn này cần thiết, nhưng dự thảo chưa xác định đầy đủ tiêu chí lựa chọn. Nếu chỉ căn cứ “tình hình thực tế” hoặc “trường hợp cần thiết”, việc giải quyết có thể thiếu nhất quán và khó giải trình khi các hộ trong cùng dự án có điều kiện tương đồng nhưng quyền lợi khác nhau. Liên quan đến nội dung này, đại biểu có 2 kiến nghị

(1) bổ sung vào khoản 3, Điều 110 các nguyên tắc: phải đánh giá tác động đến người có đất thu hồi, ngân sách và tiến độ; xác định rõ phạm vi, đối tượng áp dụng; công khai căn cứ lựa chọn và xử lý chênh lệch bất hợp lý do thay đổi chính sách. Việc lựa chọn không được áp dụng riêng lẻ theo hướng giảm quyền lợi đã được xác lập hợp pháp chỉ vì cơ quan thực hiện chậm giải quyết.

(2) Đối với trường hợp tiếp tục phương án cũ theo điểm a, khoản 3, phải đồng thời xác định khoản tiền do chậm chi trả và trách nhiệm thanh toán. Đối với trường hợp lập lại phương án theo luật mới tại điểm b, cần quy định việc xử lý số tiền đã chi, nghĩa vụ còn lại và quyền lợi hợp pháp đã được xác lập; tránh thu hồi lại tiền hoặc kéo dài thủ tục mà không có căn cứ rõ ràng.

PV (lược ghi)

Chia sẻ bài viết