30/04/2026 - 06:50

Tự hào truyền thống anh hùng - Cần Thơ vững tin bước vào kỷ nguyên mới

Bài 1: Quân với dân chung một ý chí 

Trong 21 năm trường kỳ kháng chiến chống Mỹ, cùng với cả nước, quân và dân Cần Thơ kiên cường chiến đấu, vượt qua nhiều gian khổ, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975 -  đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Từ mùa xuân ấy đến nay - 51 năm hòa bình, đổi mới và phát triển, những vùng “đất lửa” từng oằn mình bởi bom cày đạn xới giờ “thay da đổi thịt” với những cánh đồng lúa chất lượng cao, vườn cây ăn trái xanh mướt, hạ tầng hiện đại, đồng bộ... Cùng với đó, TP Cần Thơ tập trung xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh; nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, thu hút nhiều dự án trọng điểm, với quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Đây là nền tảng vững chắc để Cần Thơ khẳng định vị thế trung tâm ĐBSCL, cùng cả nước vững vàng bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Chiến tranh lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng ký ức về một thời hào hùng “gian lao mà anh dũng” vẫn vẹn nguyên trong tâm trí các thế hệ “Bộ đội Cụ Hồ”. Giữa những ngày tháng Tư lịch sử này, từng câu chuyện được khơi gợi lại, vừa ngời sáng tinh thần chiến đấu, vừa ấm áp nghĩa tình đồng đội, nghĩa tình quân - dân...  

Ký ức thời “vào sinh ra tử”

Ông Nguyễn Hoàng (bìa trái) có nhiều năm công tác trong lực lượng Quân y, Tỉnh đội Vị Thanh. Ảnh: PHẠM TRUNG​

Giữa cái nắng tháng Tư, gió từ kênh xáng Xà No thổi lồng mát rượi vào căn nhà của ông Nguyễn Hoàng (ở khu vực 5, phường Vị Tân), nguyên Trưởng Quân y, Thị đội Vị Thanh. Lần giở từng trang của quyển Lịch sử lực lượng Biệt động Vị Thanh (1966-1975), ông Hoàng bộc bạch: “Hội Cựu chiến binh phường mời tôi nói chuyện truyền thống nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tôi đọc lại những dòng tư liệu để xác nhận thông tin. Đọc đến mỗi địa danh, lòng tôi càng nhớ đồng đội da diết”.

17 tuổi, ông Nguyễn Hoàng tham gia cách mạng, được cử đi học quân y bổ túc. Trong vùng kháng chiến, địch đánh phá thường xuyên, việc điều trị, di chuyển thương binh rất khó khăn, nguy hiểm. Năm 1972, ông Nguyễn Hoàng được lệnh đưa ông Tư Y, chiến sĩ bị thương cột sống, qua tỉnh Kiên Giang để nhờ đơn vị bạn cứu chữa. “Sau khi anh Tư Y được phẫu thuật, tôi tát nước trong công sự để anh nằm dưỡng thương. Nhưng vừa xong thì máy bay B-52 của địch tới, ném bom tấn công. Thật may là không quả bom nào rơi trúng công sự” - ông Nguyễn Hoàng nhớ lại.

Ông Nguyễn Thanh Ngân (Sáu Tây), thương binh 2/4, ở khu vực 10, phường Sóc Trăng, từng tham gia chiến đấu nhiều trận trong đội hình của Tiểu đoàn Phú Lợi, giai đoạn 1967-1970. Trong trận tiến công vào thị xã Sóc Trăng ngày mùng 2, Tết Mậu Thân năm 1968, ông Sáu Tây bị thương. Trên đường rút ra điểm tập kết, gặp một đồng đội bị thương không đi được, ông quyết định ở lại hỗ trợ. Địch ném lựu đạn, ông Sáu Tây hứng chịu thêm nhiều vết thương, còn đồng đội thì hy sinh. Sau đó, ông Lý Văn Giáp - một đồng đội khác của ông Sáu Tây, rút ra, gặp ông cũng ở lại “quyết tử. Đến tối, hai chiến sĩ của Tiểu đoàn Phú Lợi lần ra được nơi tập kết ban đầu, được đồng đội đưa về căn cứ.

Ông Sáu Tây mang trên mình hàng chục vết thương. Mỗi vết thương là một kỷ niệm chiến đấu không thể nào quên. Ông trải lòng: “Trong trận đánh sân bay Bạc Liêu năm 1969, tôi bị thương nặng. Gia đình Má Hai (tên thật là Bùi Thị Bích), ở xã Ninh Quới, đã cưu mang, chăm sóc tôi gần 5 tháng. Má Hai có 4 người con trai hy sinh trong các thời kỳ kháng chiến. Vượt lên nỗi đau riêng, Má luôn bền lòng, vững tin vào cách mạng”. 

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ông Nguyễn Hoàng luôn nhớ gia đình ông Út Tính là cơ sở cách mạng, bán tạp hóa. Những khi đơn vị cần lương thực, thực phẩm, thuốc men, anh em trong đơn vị nhờ gia đình ông Út Tính mua giúp. Bên kia sông là đồn giặc, nhưng gia đình ông Út Tính không chút lo sợ, hết lòng hỗ trợ, đóng góp công sức, với ước mong đất nước sớm hòa bình, thống nhất...

Hòa bình đến như một giấc mơ

Ông Sáu Tây và ảnh chân dung đồng đội trong kháng chiến. Ảnh: PHẠM TRUNG

Ở phường Sóc Trăng, ông Sáu Tây được nhiều cựu chiến binh biết đến bởi tinh thần chiến đấu anh dũng và là người vẽ bản đồ để các đơn vị tiến vào giải phóng thị xã Sóc Trăng năm 1975. Ông Sáu kể, ông được Tỉnh đội giao nhiệm vụ vẽ bản đồ để ông Sáu Kẹo, Bí thư Tỉnh ủy, hạ quyết tâm với Bộ Tư lệnh Quân khu 9 giải phóng thị xã Sóc Trăng. Ông kết hợp thuyết trình để chỉ huy các đơn vị nắm chắc các hướng tiến công. Cán bộ các đơn vị đi thực địa về báo cáo tình hình, ông Sáu sửa bản đồ cho phù hợp. Sau khi hoàn thành bản đồ, ông lấy giấy, dầu lửa sao chép thành nhiều bản. Các bản đồ do ông Sáu Tây vẽ đã nâng cao hiệu quả tác chiến của Tiểu đoàn Phú Lợi và các đại đội độc lập, góp phần giải phóng thị xã Sóc Trăng năm 1975.

Những tháng đầu năm 1975, sau các chiến thắng của quân ta ở Tây Nguyên, miền Trung, ngụy quyền Sài Gòn quyết tử thủ ở miền Tây. Địch tập trung một lực lượng lớn để phòng thủ Cần Thơ. Từ ngày 22 đến 24-4-1975, Thường vụ Tỉnh ủy họp tại Cảng Chủ Hàng, xã Vĩnh Tường, huyện Long Mỹ, triển khai Nghị quyết của Trung ương, đánh giá tình hình, rà soát kế hoạch, bố trí lực lượng vũ trang, hạ quyết tâm giải phóng Cần Thơ.

Ngày 30-4, các Tiểu đoàn Tây Đô và lực lượng chủ lực Quân khu 9 tiến vào thành phố. Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Trung tá Nguyễn Văn Tài (Ba Tài), nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Tây Đô 1, kể: “Sáng 30-4, Tiểu đoàn Tây Đô 1 và các đơn vị vượt sông Cần Thơ, tiến lên Lộ Vòng Cung. Lực lượng địch rất đông. Sau khoảng 3 giờ thuyết phục, địch đầu hàng, để chúng tôi tiến vào nội ô”.

Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Trung tá Nguyễn Văn Tài, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Tây Đô 1, kể chuyện tham gia giải phóng Cần Thơ năm 1975. Ảnh: PHẠM TRUNG

Khi ông Ba Tài và cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Tây Đô 1 vào nội ô, lực lượng tự vệ vũ trang của ta đã chiếm Đài Phát thanh Cần Thơ. Ông Nguyễn Văn Lưu (Năm Bình) thay mặt Ủy ban Khởi nghĩa thành phố đọc lời hiệu triệu đồng bào nổi dậy cùng lực lượng vũ trang giải phóng Cần Thơ. Đến khoảng 18 giờ 30 phút, các lực lượng của ta đã chiếm dinh Tỉnh trưởng Phong Dinh và các cơ quan trọng yếu của địch...

Để chuẩn bị giải phóng thị xã Vị Thanh, cuối tháng 4-1975, Ban Chỉ đạo giải phóng thị xã Vị Thanh được thành lập, do đồng chí Trần Nam Phú, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chính trị viên Tỉnh đội Cần Thơ, làm Trưởng ban. Các đơn vị tham gia giải phóng thị xã gồm: lực lượng biệt động, du kích; Tiểu đoàn Quyết thắng 1, Quyết thắng 2 của Quân khu 9… Thời gian giải phóng thị xã dự kiến là tối 1-5. Tuy nhiên, khi Đài Phát thanh Cần Thơ phát lời hiệu triệu của Ủy ban Khởi nghĩa TP Cần Thơ, Ban Chỉ đạo thống nhất giải phóng thị xã lúc 5 giờ sáng ngày 1-5. Ông Nguyễn Hoàng kể: “Sau khi Cần Thơ được giải phóng, tin chiến thắng qua đài giải phóng làm tôi và đồng đội nôn nao không ngủ được. Rạng sáng 1-5, chúng tôi hành quân từ căn cứ đóng ven sông Ba Voi về Vị Thanh. Khí thế của quân và dân ta khắp nơi hừng hực, cờ đỏ sao vàng tung bay trên nhiều tuyến đường. Lúc đó, chúng tôi vui mừng lắm vì hòa bình đến như một giấc mơ, sau bao tháng ngày gian khổ, hy sinh”.

Các lực lượng của ta phối hợp đập tan cơ quan đầu não của ngụy quyền tỉnh Chương Thiện. Cùng thời gian trên, quần chúng nhân dân đồng loạt nổi dậy chiếm nhiều căn cứ địch ở Vị Thiện, Vị Hưng, Vị Tín, Vị Thành… Đến khoảng 9 giờ 30 phút, thị xã Vị Thanh được giải phóng. Trong cuộc tiến công và nổi dậy ở Vị Thanh, quân ta tiêu diệt và bắt sống 720 tên địch, yêu cầu ra trình diện 1.994 tên, thu 3.000 khẩu súng, 6 tàu chiến, nhiều xe quân sự…

Với ông Ba Tài, ông Nguyễn Hoàng, ông Sáu Tây, ký ức về những ngày tham gia giải phóng quê hương tháng 4-1975 luôn gắn liền với đồng đội, nhân dân. Nhắc về thời kháng chiến bằng lòng tri ân, trân quý những giá trị của hòa bình, các ông kỳ vọng thế hệ hôm nay tiếp tục giữ gìn, phát huy truyền thống anh hùng của cha anh, chung tay xây dựng quê hương, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

(Còn tiếp)

NHÓM PHÓNG VIÊN

Bài 2: Sức sống mới trên vùng “đất lửa”

Chia sẻ bài viết