Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 20-8, Quốc hội thảo luận ở hội trường. Bà Tô Ái Vang, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, tham gia đóng góp một số ý quan trọng về Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.
Thứ nhất, tại điểm d, khoản 2, Điều 1. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 của Chương trình, quy định về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển, trong đó có chỉ tiêu “Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống dưới 15%”. Mục tiêu đưa tỷ lệ thấp còi xuống dưới 15% là khả thi với 3 lý do:
1. Việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình tổng thể giúp tập trung ngân sách (dự kiến trên 808.000 ngàn tỉ đồng), tránh phân tán, lồng ghép được mục tiêu giảm nghèo với chăm sóc y tế.
2. Nguyên tắc địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm, sẽ giúp các tỉnh ĐBSCL chủ động điều phối ngân sách trực tiếp vào vùng lõi suy dinh dưỡng của địa phương mình thay vì chờ hướng dẫn từ Trung ương.
3. Chuyển trọng tâm giám sát từ giải ngân sang kết quả đầu ra (chỉ số chiều cao, cân nặng của trẻ) buộc hệ thống y tế cơ sở phải hành động thực chất.
Mặc dù hiện nay, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi trung bình cả nước đã giảm còn khoảng 18,1-18,2%. Tuy nhiên, ở ĐBSCL thì sự phân bổ không đồng đều. Tại các khu vực nông thôn sâu, vùng biên giới, vùng có đông đồng bào dân tộc, tỷ lệ thấp còi vẫn còn ở mức cao, cục bộ, có nơi trên 20%. Nguyên nhân, do chế độ ăn của trẻ em nông thôn ĐBSCL thiên về tinh bột (cơm, cháo), cá mắm, thiếu hụt nghiêm trọng rau xanh và các vi chất dinh dưỡng thiết yếu (kẽm, sắt, canxi, vitamin D3).
Bên cạnh đó, tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và thực hành ăn dặm đúng cách tại ĐBSCL còn thấp. Nhiều bà mẹ cho trẻ ăn dặm quá sớm hoặc quá muộn, thiếu kiến thức khoa học. Trong khi, ĐBSCL chịu ảnh hưởng nặng nề bởi xâm nhập mặn, hạn hán và ô nhiễm nguồn nước. Điều này làm tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn đường ruột, tiêu chảy ở trẻ em. Trẻ bị nhiễm khuẩn lặp đi lặp lại sẽ rất khó hấp thu dinh dưỡng, dẫn đến suy dinh dưỡng mạn tính (thấp còi). Xu hướng cha mẹ trẻ di cư lên các khu công nghiệp Đông Nam Bộ làm ăn, để lại con cho ông bà chăm sóc. Ông bà thường chăm con theo kinh nghiệm cũ, thiếu cập nhật kịp thời kiến thức dinh dưỡng hiện đại.
Để góp phần đạt mục tiêu của dự thảo Nghị quyết, với đặc thù sông nước ĐBSCL, đại biểu có 5 kiến nghị giải pháp sau đây:
1. Tổ chức các chiến dịch truyền thông y tế trực tiếp tại các xã, hướng thẳng vào đối tượng trực tiếp nuôi dưỡng trẻ nhằm thay đổi tư duy từ việc ăn uống cho no bụng sang ăn uống đủ chất.
2. Đưa danh mục đánh giá, xét nghiệm vi chất (sắt, kẽm, canxi, vitamin D3) vào chương trình khám sức khỏe định kỳ bắt buộc tại các Trạm Y tế xã. Cấp phát miễn phí vi chất cho trẻ em suy dinh dưỡng thuộc hộ nghèo, cận nghèo, dân tộc Khmer. Bởi vì, thiếu vi chất sẽ làm cho xương không thể phát triển tối đa. Vì vậy cần can thiệp sớm vào giai đoạn vàng (từ 0-5 tuổi).
3. Xây dựng thực đơn mẫu bằng nguồn thực phẩm sẵn có tại địa phương (thủy sản, trái cây). Ngân sách chương trình mục tiêu quốc gia cần hỗ trợ 1 phần chi phí bữa ăn bán trú cho trẻ tại các trường mầm non công lập ở vùng nông thôn khó khăn.
4. Lồng ghép nguồn vốn xây dựng nông thôn mới để cung cấp nước sạch đạt chuẩn cho toàn bộ hộ gia đình có trẻ em dưới 5 tuổi tại các vùng bị xâm nhập mặn. Nhằm giảm tối đa tỷ lệ nhiễm khuẩn và tiêu chảy (vốn tiêu hao năng lượng và làm tổn thương hệ tiêu hóa của trẻ), giúp trẻ hấp thu trọn vẹn chất dinh dưỡng để tăng trưởng chiều cao.
5. Định biên rõ ràng và nâng mức phụ cấp cho cán bộ chuyên trách dinh dưỡng tại các trạm y tế xã và trường mầm non vùng sâu không chỉ là chính sách đãi ngộ, mà là yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của mục tiêu giảm tỷ lệ thấp còi.
Bởi vì, với đặc thù sông nước, đối với địa bàn vùng sâu, vùng xa có địa hình chia cắt, đi lại khó khăn, chi phí sinh hoạt đắt đỏ do vận chuyển. Nâng mức phụ cấp là nguồn động viên kinh tế thiết thực, giúp họ yên tâm cống hiến, gắn bó lâu dài với xóm ấp là đồng nghĩa với việc chất lượng chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ được đảm bảo liên tục, không bị đứt gãy.
Thứ hai, tỷ suất sinh thô tăng thêm 0,5‰ so với năm 2025. Mục tiêu này khả thi nhưng rất cần giải pháp đột phá.
Thực trạng vùng ĐBSCL là 1 trong 2 vùng có mức sinh thấp nhất cả nước. Trong đó, Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau nằm trong nhóm báo động. Khi tư tưởng ngại sinh đã hình thành, việc lội ngược dòng để tăng tỷ suất sinh thô là cực khó. ĐBSCL đối mặt với làn sóng di cư lao động trẻ (trong độ tuổi sinh đẻ 18-35) sang vùng Đông Nam Bộ để tìm việc làm khiến tỷ suất sinh thô tại chỗ (số trẻ sinh/1.000 dân tại vùng) bị kéo xuống.
Dù có mức giá sinh hoạt thuộc nhóm thấp, thu nhập của người dân ĐBSCL phụ thuộc lớn vào nông nghiệp, chịu ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu. Sự bấp bênh về sinh kế và chi phí nuôi dạy, học tập cho con cái ngày một tăng khiến các cặp vợ chồng trẻ trì hoãn hoặc giới hạn chỉ sinh 1 con. Việc tích hợp 4 chương trình thành 1 siêu chương trình sẽ giúp lồng ghép các cấu phần y tế, dân số với hạ tầng nông thôn và sinh kế.
Khác với các đô thị đặc biệt như TP Hồ Chí Minh, tính kết nối cộng đồng và văn hóa gia đình truyền thống ở vùng nông thôn ĐBSCL vẫn rất đậm nét. Nếu gỡ được nút thắt về chi phí và an sinh, thì nhu cầu sinh con thứ 2 hoàn toàn có thể kích hoạt trở lại.
Để đạt mục tiêu của dự thảo Nghị quyết, đại biểu có 4 kiến nghị giải pháp sau đây:
1. Thực hiện cơ chế thưởng hoặc hỗ trợ bằng tiền mặt trực tiếp từ nguồn vốn kinh phí thường xuyên của chương trình mục tiêu quốc gia cho phụ nữ tại các xã nông thôn ĐBSCL khi sinh đủ 2 con (Ví dụ: hỗ trợ tương đương 3-5 lần mức lương cơ sở). Miễn 100% học phí bậc mầm non và tiểu học cho con thứ 2 của các hộ gia đình sinh sống tại vùng nông thôn ĐBSCL. Miễn hoặc hỗ trợ 100% bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi thuộc diện sinh đủ 2 con theo đúng chính sách điều chỉnh mức sinh. Ưu tiên cho vay vốn từ gói 23.000 tỉ đồng tín dụng chính sách của Chương trình đối với hộ gia đình trẻ sinh đủ 2 con để phát triển kinh tế nông thôn, tạo điều kiện cho họ lập nghiệp tại quê hương. Giải pháp này giải quyết trực tiếp bài toán kinh tế ngắn hạn và dài hạn, chuyển đổi tâm lý từ "ngại sinh vì sợ nghèo" sang "an tâm sinh sản".
2. Sử dụng nguồn vốn đầu tư công của chương trình để đầu tư trang thiết bị sản nhi hiện đại cho các trạm y tế cấp xã tại ĐBSCL. Đảm bảo 100% các trạm y tế xã có nữ hộ sinh hoặc bác sĩ sản nhi. Tăng phụ cấp thu hút cho cán bộ y tế, đặc biệt là nhân lực ngành sản - nhi, chấp nhận luân chuyển về các vùng sâu ở các địa phương trong ĐBSCL. Phát triển các mô hình trường mầm non công lập gắn với các khu cụm công nghiệp nông thôn hoặc trung tâm xã, nhận trẻ từ 6 tháng tuổi để hỗ trợ các cặp vợ chồng trẻ duy trì việc làm. Khi hạ tầng y tế cơ sở tốt giảm thiểu rủi ro thai sản và tiết kiệm chi phí khám chữa bệnh vượt tuyến cho người dân. Hệ thống nhà trẻ giúp giải phóng sức lao động của người mẹ, gỡ bỏ nỗi lo "ai trông con để đi làm".
3. Tận dụng mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn của chương trình mục tiêu quốc gia để quy hoạch các vùng kinh tế thích ứng biến đổi khí hậu, phát triển công nghiệp chế biến nông sản tại địa phương. Tổ chức các khóa đào tạo nghề chất lượng cao ngay tại chỗ cho thanh niên nông thôn, kết nối cung cầu lao động với các doanh nghiệp đầu tư vào vùng ĐBSCL. Di cư làm giảm quy mô dân số trẻ trong độ tuổi sinh đẻ của vùng. Khi thanh niên có việc làm ổn định, thu nhập tốt ngay tại quê nhà, họ sẽ kết hôn sớm hơn và có xu hướng sinh con cao hơn so với cuộc sống bấp bênh, chật chội khi đi làm thuê ở các đô thị lớn.
4. Chuyển trọng tâm từ tuyên truyền sang thông điệp Mỗi cặp vợ chồng hãy sinh đủ 2 con tạo thành phong trào và chuẩn mực xã hội mới tại ĐBSCL.
Để chỉ tiêu tỷ suất sinh thô tăng thêm 0,5‰ đạt tính thực tiễn cao, kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ xem xét 2 nội dung trong dự thảo Nghị quyết:
1. Không cào bằng, áp dụng chung 1 mức tăng 0,5‰ cho tất cả các vùng miền. Cần quy định linh hoạt: vùng có mức sinh cao (Tây Nguyên, Miền núi phía Bắc) tập trung giữ vững mức sinh thay thế hoặc tiếp tục giảm sinh hợp lý. Ngược lại, vùng có mức sinh thấp: ĐBSCL và Đông Nam Bộ, ra thành 1 cấu phần ưu tiên với mục tiêu tăng tỷ suất sinh thô mạnh mẽ hơn đi kèm ngân sách hỗ trợ kinh tế trực tiếp tương xứng.
2. Như các đại biểu Quốc hội đã thảo luận, cần giám sát dựa trên hiệu quả thụ hưởng thực chất của người dân chứ không chỉ là tỷ lệ giải ngân vốn. Kết quả tăng tỷ suất sinh phải được coi là 1 chỉ số KPI cốt lõi để đánh giá hiệu quả thực hiện nhóm nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe, dân số của chính quyền các tỉnh trong vùng ĐBSCL.
Thứ ba, tại điểm d, khoản 3, Điều 1. Mục tiêu cụ thể của Chương trình đến năm 2035, quy định về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển, trong đó có chỉ tiêu tỷ lệ người dân được lập sổ sức khỏe điện tử và quản lý sức khỏe theo vòng đời tiếp tục duy trì đạt 100% là có cơ sở. Bởi vì hiện nay, Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng VNeID, đặc biệt là mức độ bao phủ định danh điện tử mức 2 đã tạo ra chiếc chìa khóa đồng bộ. Việc tích hợp sổ sức khỏe điện tử lên VNeID đang được Bộ Y tế và Bộ Công an đẩy mạnh trên toàn quốc. Giai đoạn thực hiện kéo dài từ năm 2026 đến 2035 là 10 năm. Đây là khoảng thời gian đủ lớn để hoàn thiện hạ tầng công nghệ, số hóa dữ liệu lịch sử và thay đổi thói quen của người dân.
Sự chủ động từ các địa phương trong vùng: nhiều tỉnh tại ĐBSCL đã và đang chủ động tăng tốc chiến dịch khám sức khỏe miễn phí, lập hồ sơ số cho 100% người dân. Mặc dù có thể đạt tỷ lệ rất cao (90-95%) nhưng để đạt và duy trì 100% thực chất theo chủ trương dữ liệu luôn Đúng - Đủ - Sạch - Sống thì ĐBSCL có các rào cản: hệ thống kênh rạch chằng chịt khiến việc tiếp cận các trạm y tế xã gặp nhiều khó khăn về mặt địa lý; tốc độ và độ ổn định của hạ tầng mạng, Internet băng thông rộng tại các vùng cù lao, vùng ven biển, vùng đồng bào dân tộc chưa đồng đều.
ĐBSCL là vùng có tỷ lệ di cư lao động lên các thành phố lớn cao nhất cả nước nên việc quản lý sức khỏe theo vòng đời tại địa phương gốc, dễ rơi vào tình trạng ngắt quãng, trùng lặp dữ liệu hoặc dữ liệu không được cập nhật khi họ khám bệnh ở nơi khác. Các Trạm Y tế xã tại ĐBSCL đang đối mặt với làn sóng thiếu hụt nhân lực, đặc biệt là bác sĩ và cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin. Cán bộ y tế vừa phải làm chuyên môn, vừa chịu áp lực nhập liệu thủ công lớn cho các hệ thống phần mềm chưa liên thông đồng bộ. Tỷ lệ người cao tuổi, người lao động chân tay tại nông thôn ĐBSCL không sử dụng điện thoại thông minh hoặc thông thạo các thao tác ứng dụng VNeID còn khá cao. Người dân chỉ quan tâm đến việc có bệnh thì đi khám bằng giấy tờ truyền thống, chưa có thói quen chủ động tra cứu hoặc phối hợp cập nhật sổ sức khỏe điện tử.
Từ thực trạng trên, đại biểu có 5 kiến nghị:
1. Yêu cầu tất cả các cơ sở khám chữa bệnh (từ bệnh viện tư nhân, phòng khám đến trạm y tế xã) phải tự động đồng bộ kết quả khám bệnh, đơn thuốc, xét nghiệm lên sổ sức khỏe điện tử của VNeID ngay khi ký số đầu ra, nhằm loại bỏ hoàn toàn việc cán bộ y tế xã phải đi nhập liệu lại bằng tay. Dữ liệu sức khỏe của người lao động di cư từ ĐBSCL khi đi khám ở TP Hồ Chí Minh vẫn tự động cập nhật về hệ thống quản lý vòng đời của họ. Cho phép 1 thành viên công nghệ trong nhà (ví dụ con, cháu) được tích hợp và quản lý, theo dõi sổ sức khỏe điện tử của cha mẹ, ông bà lớn tuổi trên cùng 1 tài khoản VNeID.
2. Trích 1 phần nguồn lực từ chương trình mục tiêu quốc gia (nhóm nhiệm vụ về y tế và chuyển đổi số) để cấp bù kinh phí mua sắm máy tính cấu hình cao, đầu tư đường truyền Internet tốc độ cao cho 100% trạm y tế cấp xã tại vùng khó khăn, vùng sông nước.
3. Thành lập các đội khám sức khỏe sàng lọc lưu động bằng ghe, xuồng máy đến tận các khu vực cù lao, vùng sâu. Đi cùng nhân viên y tế là Đội thanh niên tình nguyện đảm nhiệm việc hướng dẫn người dân cài đặt, xác thực VNeID mức 2 tại chỗ. Nhằm giúp việc thu thập dữ liệu gốc đạt tỷ lệ tuyệt đối mà không bắt người dân phải di chuyển xa.
Để bảo đảm tính nghiêm minh và khả thi của Nghị quyết Quốc hội, đại biểu có 2 kiến nghị:
1. Không nên dùng cụm từ cố định duy trì đạt 100% một cách cơ học cho mọi vùng miền. Thay vào đó, nên thiết kế chỉ tiêu theo hướng phân theo lộ trình: Đến năm 2030 đạt tối thiểu 90% và đến năm 2035 đạt 100% người dân được lập sổ sức khỏe điện tử thực chất, bảo đảm dữ liệu Đúng - Đủ - Sạch - Sống.
2. Chỉ số đánh giá không phải là số lượng sổ được mở, mà phải là tỷ lệ hồ sơ có phát sinh cập nhật dữ liệu khám chữa bệnh thực tế trong năm.
PV