19/08/2026 - 15:30

Bà Lê Thị Thanh Lam, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, góp ý dự thảo Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 19-8, Quốc hội thảo luận ở tổ. Bà Lê Thị Thanh Lam, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, tham gia đóng góp một số ý quan trọng về dự thảo Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.

Đại biểu Lê Thị Thanh Lam góp ý dự thảo Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.

Đại biểu Lê Thị Thanh Lam tán thành với Tờ trình số 572 ngày 17-8-2026 của Chính phủ về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035; đồng thời đánh giá cao việc Chính phủ đã tiếp thu nhiều ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội để hoàn thiện hồ sơ.

Việc phê duyệt một Chương trình mục tiêu quốc gia mới trên cơ sở hợp nhất 4 Chương trình nhằm khắc phục tình trạng nhiều đầu mối quản lý; đồng thời tăng quyền chủ động cho địa phương và chuyển mạnh từ quản lý theo quy trình sang quản lý theo kết quả đầu ra. Tuy nhiên để kiểm soát được hiệu quả cuối cùng của chính sách, đại biểu góp ý 3 nội dung cụ thể:

Thứ nhất, về hỗ trợ sinh kế và phát triển sản xuất - đề nghị đánh giá bằng thu nhập thực tế của người dân

Tại điểm a, khoản 7, Điều 1, dự thảo xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm và bền vững. Đồng thời, điểm c, khoản 10, Điều 1 quy định cơ chế đặc thù về hỗ trợ phát triển sản xuất, trong đó có hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng ưu tiên. Đề nghị làm rõ hơn kết quả cuối cùng của hỗ trợ sinh kế cần đạt được: Bởi năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của cả nước đã giảm còn khoảng 1,3%, nhưng bước sang quý II-2026 vẫn còn khoảng 4,2 triệu người làm công việc tự sản, tự tiêu trong nông nghiệp. Điều đó cho thấy giảm tỷ lệ hộ nghèo là một kết quả quan trọng, nhưng để người dân có sinh kế bền vững, tham gia được vào thị trường và tạo ra thu nhập ổn định vẫn còn là bài toán lớn.

Vì vậy, đề nghị bổ sung tại điểm a, khoản 8, Điều 1 về tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra các chỉ tiêu đối với dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, sinh kế, như: mức tăng thu nhập của hộ thụ hưởng; tỷ lệ mô hình còn duy trì sau khi kết thúc hỗ trợ của Chương trình; khả năng tiêu thụ sản phẩm. Đây mới là những chỉ số cho thấy nguồn lực của Chương trình có thực sự giúp người dân tự vươn lên hay không...

Thứ hai, về giáo dục nghề nghiệp và đào tạo - cần chuyển từ “học được nghề” sang “sống được bằng nghề”

Tại điểm c, khoản 7, Điều 1, dự thảo tập trung nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, gồm đầu tư cơ sở vật chất, nhà xưởng, thiết bị thực hành, hạ tầng đào tạo hiện đại và mở rộng quy mô đào tạo.

Tuy nhiên, thực tế thị trường lao động hiện nay cần đặt yêu cầu cao hơn đối với hiệu quả đầu ra. Quý II-2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới đạt 29,8%. Đáng chú ý, có khoảng 1,4 triệu thanh niên từ 15 đến 24 tuổi (3 không: không có việc làm, không tham gia học tập, không qua đào tạo), có 51,4% lao động phi nông nghiệp vẫn làm việc phi chính thức.

Những con số này đặt ra câu hỏi: nếu Chương trình tiếp tục đầu tư rất lớn cho giáo dục nghề nghiệp thì đầu ra cuối cùng phải là việc làm và thu nhập, chứ không chỉ là số lớp học, số người được đào tạo hay số chứng chỉ được cấp. Do đó, đề nghị Ban soạn thảo bổ sung tiêu chí về tỷ lệ người học có việc làm sau đào tạo; đối với đầu tư cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cần đánh giá mức độ khai thác cơ sở vật chất, quy mô người học và khả năng đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường.

Thứ ba, về huy động vốn xã hội hóa

Dự thảo cho phép lồng ghép các nguồn vốn từ chương trình, dự án khác, ngân sách địa phương và vốn xã hội hóa. Đồng thời, giao địa phương huy động các nguồn lực hợp pháp khác để thực hiện Chương trình. Đại biểu thống nhất chủ trương này, tuy nhiên đề nghị Nghị quyết phải có phân bổ vốn phù hợp theo từng điều kiện kinh tế của địa phương, bởi địa bàn cần Chương trình hỗ trợ nhiều nhất thường cũng chính là địa bàn có khả năng xã hội hóa thấp nhất. Vì điều kiện người dân đã khó khăn mà giao công tác xã hội hóa cho địa phương sẽ càng khó khăn hơn.

Vì vậy, đề nghị bổ sung nguyên tắc bảo đảm nguồn lực xã hội hóa là nguồn lực bổ sung, không làm giảm mức độ ưu tiên và khả năng tiếp cận nguồn lực ngân sách nhà nước của các địa bàn, đối tượng khó khăn. Đối với phần huy động sự đóng góp của người dân, cộng đồng, nếu có, cần bảo đảm công khai, minh bạch và trên cơ sở tự nguyện, đồng thời không làm phát sinh thêm điều kiện thụ hưởng ngoài quy định của Chương trình.

PV

Chia sẻ bài viết