03/02/2022 - 21:13

4 năm phát triển thuận thiên... 

Năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP, còn được gọi là Nghị quyết “thuận thiên”, mang đến một tầm nhìn mới về phát triển bền vững ÐBSCL trong điều kiện ảnh hưởng biến đổi khí hậu (BÐKH). Thời điểm đó, câu hỏi được đặt ra: Làm thế nào để thực sự “sống thuận thiên” khi ÐBSCL có đến 13 “mảnh ghép”?

Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP, nội hàm “sống thuận thiên” đã được thống nhất lý giải và cụ thể hoá thành “đường đi nước bước” của người đồng bằng. Ðó là: liên kết thực chất; đầu tư hạ tầng đồng bộ; năng động, sáng tạo khai thác lợi thế so sánh phát triển các mô hình chuyển đổi sản xuất để vừa hài hòa lợi ích của từng địa phương vừa bảo đảm đạt được cao nhất mục tiêu phát triển của vùng.

Liên kết thực chất

Những năm qua, mối liên kết giữa các địa phương ÐBSCL, giữa ÐBSCL và TP Hồ Chí Minh, giữa ÐBSCL và các tỉnh, thành trong cả nước ngày càng sâu sắc và đa dạng, đạt đến sự thấu hiểu và ăn ý nhất định. Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới đòi hỏi ÐBSCL có mối liên kết toàn diện, thực
chất hơn.

Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh 
Phan Văn Mãi phát biểu tại Mekong Connect 2021: “Với “địa kinh tế” của khu vực, Mekong dồi dào nguồn tài nguyên năng lượng tái tạo, có lợi thế phát triển kinh tế biển, có hệ sinh thái khởi nghiệp mạnh. TP Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại lớn của cả vùng với 80% nguồn cung cho thị trường đến từ ĐBSCL. Chúng ta đã có mối liên kết phát triển về hạ tầng giao thông, về nguồn nhân lực, về chuỗi sản xuất kinh doanh, về kinh tế biển, về kết nối năng lượng - du lịch - hàng không, về hệ sinh thái khởi nghiệp và liên kết công nghiệp hỗ trợ, về bình ổn và phát triển thị trường… TP Hồ Chí Minh luôn xem các tỉnh, thành ĐBSCL là đối tác phát triển và luôn sẵn sàng hỗ trợ các địa phương để thúc đẩy phát triển kinh tế vùng; và mong muốn từ năm 2021, TP Hồ Chí Minh sẽ tham gia chính thức là thành viên của Mekong Connect”. 

Năm 2020, ÐBSCL đón “ngọn gió Ðông” khi Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng điều phối vùng ÐBSCL giai đoạn 2020-2025. Quyết định này đã giúp giải quyết một trong những “điểm nghẽn” cho sự phát triển của ÐBSCL - cơ chế liên kết và điều phối hoạt động cấp vùng. Hội đồng có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất; giúp Thủ tướng kiểm tra, giám sát thực hiện cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, nhiệm vụ, dự án có quy mô vùng và có tính chất liên kết vùng, phát triển bền vững ÐBSCL thích ứng với BÐKH; thông qua kế hoạch triển khai các hoạt động về phát triển bền vững vùng ÐBSCL; tổ chức các hoạt động chung xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch, truyền thông của vùng.

Ðến đầu tháng 7-2021, ÐBSCL có “nhạc trưởng” - Phó Thủ tướng Lê Văn Thành làm Chủ tịch Hội đồng điều phối vùng ÐBSCL theo Quyết định số 1054/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Phiên họp đầu tiên của Hội đồng được tổ chức 4 tháng sau đó để lấy ý kiến hoàn thiện Quy hoạch vùng ÐBSCL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo dự thảo Quy hoạch, phát triển vùng ÐBSCL dựa trên ba trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường, trong đó, môi trường và xã hội là nền tảng. Phát triển theo nguyên lý thuận thiên có kiểm soát, coi tài nguyên nước là yếu tố cốt lõi và lấy con người làm trung tâm, tận dụng những điều kiện tự nhiên phong phú để phát triển đa dạng nhưng hạn chế can thiệp thô bạo vào hệ thống tự nhiên.

Phó Thủ tướng Lê Văn Thành đặc biệt nhấn mạnh: Quy hoạch cần ưu tiên đầu tư cho hạ tầng giao thông vùng ÐBSCL bảo đảm đồng bộ, thông suốt, liên kết các không gian phát triển trên cơ sở khai thác có trọng tâm, trọng điểm các tiềm năng, lợi thế của vùng. Ðồng thời chú trọng đầu tư hệ thống thủy lợi, chống xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông - bờ biển, hệ thống các hồ, các điểm dự trữ nước chiến lược… để hạn chế tối đa thiệt hại do thiên tai, BÐKH ảnh hưởng đến dân sinh trong tương lai.

Cống Cái Lớn thuộc Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn, Cái Bé giai đoạn 1 chuẩn bị vận hành ngăn mặn mùa khô 2022. Ảnh: H.P

Ðầu tư hạ tầng đồng bộ

Ði dạo trên bờ kè kiên cố, khang trang của kênh Giáo Dẫn, khu vực Tân Quy, phường Trường Lạc, quận Ô Môn, ông Nguyễn Văn Thanh phấn khởi nói: “Trước đây, khu vực này sạt lở nghiêm trọng, có đoạn đứt gần hết đường giao thông. Bờ kè này được xây hồi đầu năm, đến nay công trình hoàn thành, đường giao thông rộng thoáng, có vỉa hè tản bộ… nên ai cũng vui mừng, không phập phồng lo cảnh sạt lở nữa”. Ông Lê Việt Sĩ, Chủ tịch UBND quận Ô Môn, cho biết: “Công trình có kinh phí hơn 14,8 tỉ đồng, là một trong nhiều công trình, dự án ứng phó BÐKH mà người dân quận Ô Môn được thụ hưởng”.

Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Trần Việt Trường:
Thành phố tập trung phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, kết nối nội vùng và liên vùng làm cơ sở để phát huy vai trò trung tâm, động lực phát triển vùng và đầu mối quan trọng về vận tải, giao thương nội vùng, liên vận quốc tế... Để đạt mục tiêu phát triển KT-XH bền vững, ngoài các công trình thích ứng BĐKH, thời gian tới TP Cần Thơ sẽ tận dụng cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tăng cường ứng dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật trong quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, thích ứng với BĐKH.

Trong 4 năm qua TP Cần Thơ đã và đang triển khai xây dựng 18 công trình kè chống sạt lở với tổng chiều dài gần 42km, kinh phí thực hiện trên 4.945 tỉ đồng; 6 công trình kè chống sạt lở đang trong giai đoạn lập dự án đầu tư... TP Cần Thơ cũng kiến nghị Trung ương đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn (giai đoạn 2021-2025) 8 công trình kè chống sạt lở, tổng chiều dài 11,218km, kinh phí thực hiện 1.904 tỉ đồng…

Thực hiện mục tiêu thích ứng BÐKH, ổn định sinh kế, sản xuất của người dân, những năm qua ÐBSCL nhận được nhiều sự hỗ trợ của các bộ, ngành Trung ương. Từ năm 2016 đến đầu năm 2021, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã đầu tư khoảng 28.200 tỉ đồng thực hiện các dự án ở ÐBSCL: Dự án Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ÐBSCL - WB9; Dự án Quản lý nước Bến Tre; Dự án Chuyển đổi nông nghiệp bền vững VnSAT;…

Trong đó nổi bật là Dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1 có tổng vốn đầu tư trên 3.309 tỉ đồng xây dựng tại huyện An Biên và Châu Thành (Kiên Giang) đã cơ bản hoàn thành vào cuối tháng 11-2021. Ðầu tháng 12-2021, Bộ NN&PTNT ban hành quy trình vận hành tạm thời của hệ thống này.

Theo đó, vận hành hệ thống công trình thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé phải đảm bảo: Thống nhất trong toàn hệ thống, không chia cắt theo địa giới hành chính; Bảo đảm an toàn cho công trình, an toàn cho người và tài sản trong khu vực, hài hòa lợi ích giữa các nhu cầu sử dụng nước, phát huy hiệu quả khai thác tổng hợp, phục vụ đa mục tiêu của công trình thủy lợi; Không làm thay đổi nguồn nước của các hệ sinh thái hiện tại (ngọt, mặn - lợ, ngọt - lợ luân phiên); Không để xảy ra tranh chấp về nguồn nước cũng như hạn chế tác động bất lợi đến các vùng liên quan…

Hệ thống công trình thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé hiện có các nhiệm vụ chính: Kiểm soát nguồn nước (mặn, lợ, ngọt), tạo điều kiện sản xuất ổn định, bền vững đối với các mô hình sản xuất theo hệ sinh thái (ngọt, mặn - lợ, ngọt - lợ luân phiên) cho vùng hưởng lợi với diện tích tự nhiên 384.120ha; trong đó, đất sản xuất nông nghiệp là 346.241ha; Kết hợp với tuyến đê biển Tây tạo thành cụm công trình phòng, chống thiên tai, nước biển dâng do bão, giảm ngập lụt, úng do lún, sụt đất; giảm thiệt hại do hạn hán, xâm nhập mặn vào mùa khô cho các mô hình sản xuất trong vùng; Góp phần cấp nước ngọt trong mùa mưa cho vùng sản xuất mặn, ngọt huyện An Minh, An Biên ở những năm mưa ít; tiêu thoát, giảm ngập úng cho vùng hưởng lợi của hệ thống trong điều kiện BÐKH, nước biển dâng; Kết hợp phát triển cơ sở hạ tầng giao thông bộ, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực.

TP Cần Thơ quan tâm đầu tư xây dựng các công trình cầu, kè thích ứng biến đổi khí hậu dọc theo sông Cần Thơ. Trong ảnh: Cầu Quang Trung. Ảnh: ANH KHOA

Khai thác lợi thế so sánh

Theo Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, giai đoạn 2021-2025, ÐBSCL có kế hoạch được phân bổ khoảng 388.000 tỉ đồng từ ngân sách Trung ương. Nguồn vốn này để hoàn thành các công trình giao thông trọng điểm, như cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận - Cần Thơ - Cà Mau; các tuyến giao thông kết nối liên vùng; tuyến ven biển; các công trình khắc phục sạt lở, các công trình thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp…

Thời gian qua, Bộ NN&PTNT, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), chính quyền các địa phương và người dân vùng ÐBSCL có nhiều chiến lược, chương trình, giải pháp cả về mặt công trình và phi công trình để ứng phó với BÐKH. Những chương trình, chiến lược, giải pháp này từng bước đi vào cuộc sống giúp khai thác tối đa các nguồn lực và thành tựu khoa học, kỹ thuật… để người dân có thể chuyển đổi sinh kế các vùng cho phù hợp, nâng cao giá trị gia tăng của sản xuất, phát triển bền vững trong tương lai. Nhờ đó, qua 4 năm thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP đã thúc đẩy sự hình thành các vùng sản xuất chuyên canh quy mô lớn, chất lượng cao lúa - thủy sản - cây ăn trái gắn với sự phát triển theo chuỗi giá trị ngành chế biến nông sản xuất khẩu thích ứng và hạn chế tác hại của BÐKH. Ðiển hình như Dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé có mục tiêu kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang và Bạc Liêu thuộc lưu vực sông Cái Lớn - Cái Bé. Ðồng thời, góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang.

Ðể tiếp tục phát huy các thành quả đạt được, trong giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến 2030, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất phát triển nông nghiệp theo 3 tiểu vùng có xem xét đến các hệ sinh thái nông nghiệp trong từng tiểu vùng:

Vùng thượng đồng bằng: phát triển nền nông nghiệp đa dạng, có tính đến thích ứng với lũ cực đoan; là vùng trọng điểm về sản xuất lúa và cá tra theo hướng hiện đại, bền vững; là vùng đóng vai trò điều tiết và hấp thu lũ cho ÐBSCL.

Vùng giữa: phát triển nông nghiệp miệt vườn điển hình, là trung tâm chuyên canh trái cây lớn nhất của vùng và cả nước; phát triển một số vùng lúa gạo tập trung, thủy sản nước ngọt, rau màu, cây công nghiệp và thủy sản nước lợ.

Vùng ven biển: phát triển nền nông nghiệp dựa chính vào nước mặn và lợ, phát huy lợi thế thủy sản; luân canh mặn - ngọt phù hợp điều kiện đặc thù theo mùa; tập trung phát triển hệ thống nông - lâm kết hợp theo hướng sinh thái, hữu cơ, kết hợp du lịch sinh thái.

Cùng với việc đề xuất chia thành các tiểu vùng, thì ÐBSCL cũng cần xoay trục chiến lược sang thủy sản - trái cây - lúa gạo; tăng tỷ trọng giá trị sản xuất thủy sản và trái cây, giảm tỷ trọng lúa gạo.

Mô hình lúa - tôm phát triển ở tỉnh Sóc Trăng, góp phần nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, ứng phó BĐKH.

Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng phát biểu tại Mekong Connect 2021: “ĐBSCL, trong bối cảnh liên kết với TP Hồ Chí Minh hay với các vùng, miền khác, đổi mới sáng tạo mở có thể là 1 giải pháp để huy động tối đa các nguồn lực nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Thời gian tới, ĐBSCL cần tập trung thực hiện một số giải pháp phát triển thị trường KH&CN, trong đó ưu tiên đầu tư ngân sách để hình thành sàn giao dịch thiết bị và công nghệ ĐBSCL, lấy hạt nhân nòng cốt là Sàn giao dịch thiết bị và công nghệ Cần Thơ và Sàn giao dịch thiết bị và công nghệ TP Hồ Chí Minh; hình thành và phát triển các tổ chức trung gian của thị trường KH&CN khu vực ĐBSCL; triển khai các biện pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ; nhập khẩu, giải mã các công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch, ưu tiên công nghệ từ các nước phát triển; hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ; ưu tiên hỗ trợ các kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp phụ trợ, cơ giới hóa, chế biến sâu trong nông nghiệp, phục vụ yêu cầu phát triển của vùng trong bối cảnh các tác động của BĐKH ngày càng gia tăng”. 

HÀ VĂN

Chia sẻ bài viết