02/11/2026 - 11:43

Xung quanh việc Lầu Năm Góc giảm cam kết và hiện diện quân sự tại châu Âu 

Việc Lầu Năm Góc giảm cam kết và hiện diện quân sự tại châu Âu gần đây có thể khiến các đồng minh chủ chốt trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) quay lưng với vũ khí Mỹ, động thái mà Viện nghiên cứu chính sách và chiến lược toàn cầu RAND đánh giá sẽ làm tổn hại nền tảng công nghiệp quốc phòng Mỹ về lâu dài.

Máy bay vận tải Boeing C-17A Globemaster III của Không quân Mỹ cất cánh từ Căn cứ Không quân Ramstein ở Đức. Ảnh: Getty Images

Tính đến năm 2025, Mỹ duy trì lực lượng khoảng 80.000 binh sĩ tại 31 căn cứ thường trực và 19 địa điểm quân sự trên khắp châu Âu.

Tập trung nhiều hơn vào Tây Thái Bình Dương và Tây Bán Cầu, Bộ Chiến tranh Mỹ hồi tháng 1-2026 phát đi tín hiệu giảm bớt hiện diện quân sự tại châu Âu. Đầu tiên là công bố kế hoạch rút 5.000 binh sĩ Mỹ khỏi Đức trong 6-12 tháng, sau đó là thông báo cắt giảm và thu hẹp quy mô lực lượng quân sự hỗ trợ NATO trong trường hợp khủng hoảng.

Trong báo cáo dự đoán phản ứng của đồng minh, Viện RAND đã phân tích và xem xét cách Pháp, Đức, Ba Lan, Anh sẽ hành động dựa vào tiền lệ thời Chiến tranh Lạnh, nội dung tranh luận công khai cũng như phỏng vấn 51 quan chức và chuyên gia tại 4 quốc gia.

Trước tiên, việc Mỹ rút quân đột ngột sẽ đẩy các đồng minh vào thế khó. Trong ngắn hạn, họ hầu như không có lựa chọn nào ngoài tiếp tục mua trang thiết bị có sẵn, thường là từ các nhà cung cấp Mỹ, để bù đắp thiếu hụt. Về lâu dài, lòng tin giảm sút buộc những quốc gia này đẩy mạnh sản xuất trong nước hoặc mở rộng sang các giải pháp thay thế ở khu vực.

Thay đổi trên sẽ gây bất lợi cho nền tảng công nghiệp quốc phòng Mỹ, vốn hưởng lợi từ hoạt động xuất khẩu giúp tạo ra lợi thế kinh tế nhờ quy mô. Như với Đức, nước này mua vũ khí Mỹ không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu trang thiết bị quân sự mà còn để neo giữ sự hiện diện cũng như cam kết bảo vệ của Washington trong khuôn khổ NATO. Nhưng trước quyết định rút quân vội vã của Lầu Năm Góc, không còn lý do để Berlin tiếp tục ưu ái công ty Mỹ trong các thương vụ vũ khí.

Trường hợp Pháp, quốc gia đi đầu trong đề xuất tự chủ chiến lược và thúc đẩy Liên minh châu Âu (EU) giảm phụ thuộc Mỹ, những động thái đó là bằng chứng cho thấy Washington đang bỏ qua an ninh của đồng minh, khiến hai bên khó thống nhất hơn về kế hoạch quân sự hay các sáng kiến ngoại giao.

Ngoài vũ khí, báo cáo cũng xem xét kịch bản nào xảy ra nếu Mỹ bình thường hóa quan hệ với Nga mà không giải quyết các mối lo ngại về an ninh của châu Âu, nhất là khi cuộc xung đột ở Ukraine vẫn tiếp diễn. Trong trường hợp đó, các đồng minh có thể hạn chế chia sẻ thông tin tình báo và lập kế hoạch quân sự chung với Mỹ vì lo sợ thông tin bị rò rỉ. Hiện một số nước như Anh, Hà Lan đã giảm chia sẻ tin tình báo với Mỹ do bất đồng về hoạt động quân sự của Lầu Năm Góc ở vùng biển Caribe cũng như chính sách của Nhà Trắng với Nga.

Trong cảnh báo chung, Viện RAND lưu ý các nhà hoạch định quân sự không nên lấy quy mô quân số làm đòn bẩy gây áp lực lên các đồng minh.

Trước đó, Washington từng công bố khái niệm “NATO 3.0” buộc châu Âu phải chấm dứt tình trạng “ngủ quên” dưới chiếc ô bảo vệ an ninh của Mỹ.

Về triển khai lực lượng, thay vì thay đổi đột ngột, báo cáo cho rằng Mỹ có thể thực hiện các đợt cắt giảm quân số nhưng theo kế hoạch dài hạn, có thể dự đoán và thống nhất với NATO. Điều này cho phép các đồng minh tham gia ý kiến, duy trì quan hệ đối tác xuyên Đại Tây Dương. Ngược lại, việc coi nguồn lực quân sự và các cam kết quốc phòng như quân bài mặc cả có thể khiến hợp tác khu vực suy yếu và làm chệch mục tiêu về một châu Âu vững mạnh theo mô hình “NATO 3.0”.

MAI QUYÊN (Theo Defense News)

Chia sẻ bài viết