02/11/2026 - 08:41

Liên kết “3 nhà” phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số 

Những năm gần đây, hệ thống chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có những thay đổi quan trọng, mở rộng quyền chủ động và nguồn lực cho liên kết, hợp tác giữa các viện, trường và doanh nghiệp. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, Nhà nước cần kiến tạo và chia sẻ rủi ro; viện, trường cung cấp giải pháp; doanh nghiệp đầu tư, tiếp nhận và thương mại hóa.

Ký kết hợp tác giữa Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ, Đại học Cần Thơ và Công ty TNHH De Heus đề án Nuôi tôm thẻ siêu thâm canh trong hệ thống tuần hoàn kết hợp đa loài.​

Kết quả bước đầu

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, giai đoạn 2021-2025, cả nước có 181 trong tổng số 1.451 nhiệm vụ cấp quốc gia (12,5%) do doanh nghiệp chủ trì, chiếm 25,7% tổng kinh phí các nhiệm vụ được tổng hợp. Theo công bố của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, năm 2026, Việt Nam xếp thứ 24 về hợp tác nghiên cứu và phát triển giữa đại học và doanh nghiệp.

Xây dựng tiêu chuẩn quốc gia cũng là kênh kết nối quản lý nhà nước, nghiên cứu và sản xuất. Việt Nam đã công bố 14.630 tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), trong đó có 8.630 TCVN do các bộ, ngành chủ trì xây dựng, 6.000 TCVN do Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng; số lượng TCVN do các viện, trường, doanh nghiệp xây dựng thông qua phương pháp chuyên gia và ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia đạt hơn 80%.

Một số mô hình đã tạo ra công nghệ, sản phẩm và hiệu quả kinh tế. Cụ thể, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel), Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã bàn giao, ứng dụng kết quả 3 nhiệm vụ: trợ lý lập trình CoDev, mô hình ngôn ngữ viễn thông TelcoLLM và nền tảng AI Platform; Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông hợp tác với Viện Tiên tiến Khoa học và Công nghệ, Đại học Bách khoa Hà Nội qua phòng thí nghiệm, xưởng thực nghiệm chung, góp phần nội địa hóa vật tư và phát triển công nghệ LED…

TS Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, cho biết: Thời gian qua, Viện Lúa ĐBSCL phối hợp với các doanh nghiệp nghiên cứu và thương mại hóa các sản phẩm khoa học công nghệ liên quan đến ngành hàng lúa gạo theo hai hình thức. Thứ nhất, doanh nghiệp tham gia đồng sáng tạo từ đầu. Nghĩa là, không chỉ đóng vai trò tiêu thụ ở đầu ra, doanh nghiệp cùng các nhà khoa học xác định ngay từ đầu các tiêu chí chất lượng (năng suất, hàm lượng dinh dưỡng, mùi thơm, khả năng thích ứng thị trường), giúp rút ngắn thời gian đưa giống mới ra sản xuất. Thứ hai, chuyển giao bản quyền và hình thành chuỗi cung ứng khép kín theo hình thức có đầu tư phát triển và tiếp nhận quyền sử dụng giống (Công ty CP Tập đoàn Lộc Trời, Công ty CP Tập đoàn ThaiBinhSeed…); hợp tác xây dựng chuỗi cung ứng đồng bộ từ cung ứng giống, chuyển giao quy trình kỹ thuật, tổ chức sản xuất đến thu mua, chế biến và phân phối gạo thương phẩm mang thương hiệu Việt (Công ty CP Lương thực A An); chuyển giao quyền sử dụng giống lúa với các trung tâm giống, doanh nghiệp và hợp tác xã sản xuất giống lúa ở ĐBSCL.

Thắt chặt liên kết

Mặc dù đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ vẫn chưa chặt chẽ, chưa thực chất. Nhiều nhu cầu chưa trở thành đơn đặt hàng, nhiều kết quả nghiên cứu chưa được hoàn thiện để ứng dụng và thương mại hóa. Không ít đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu chưa xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế, nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường.

Từ thực tế trên, nhiều ý kiến cho rằng vấn đề trọng tâm hiện nay là tổ chức thực hiện hiệu quả các chính sách đã ban hành, gắn trách nhiệm của từng chủ thể với kết quả cuối cùng. Nhà nước xác định ưu tiên, kiến tạo điều kiện, hỗ trợ và chia sẻ rủi ro theo quy định; viện, trường phát triển tri thức và giải pháp công nghệ; doanh nghiệp xác định nhu cầu, cùng đầu tư, tiếp nhận và thương mại hóa. Sự phối hợp cần được duy trì từ hình thành bài toán đến khi công nghệ được sử dụng và tạo ra giá trị.

Theo TS Trần Ngọc Thạch, ngành hàng lúa gạo cần một hệ sinh thái công nghệ đồng bộ theo chiều dọc toàn chuỗi gồm giống thế hệ mới, canh tác chính xác và số hóa, kinh tế tuần hoàn và chế biến sâu và mô hình phối hợp 4 bên. Trong đó, cơ quan quản lý nhà nước định hướng chiến lược, hỗ trợ tài chính nghiên cứu cơ bản. Viện Lúa ĐBSCL và viện/trường chủ trì nền giống, khảo nghiệm đồng ruộng và làm chủ công nghệ lõi. Doanh nghiệp đảm nhiệm đặt hàng thị trường, đối ứng vốn, vận hành hạ tầng số và thương mại hóa sản phẩm/tín chỉ carbon và hợp tác xã, nông dân sẽ thực hành canh tác, chuẩn hóa nhật ký điện tử.

Theo ông Lê Xuân Định, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, hiệu quả mô hình liên kết “3 nhà” không thể chỉ đánh giá thông qua số lượng biên bản ghi nhớ hợp tác mà cần được đo lường bằng cơ chế phân chia lợi ích, dòng tiền và trách nhiệm cụ thể của các bên. Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp từ cuối năm 2026 gồm: đo lường kết quả liên kết bằng 10 chỉ số, khai thác dữ liệu sẵn có; đồng tài trợ theo vốn doanh nghiệp thực góp; gắn phân bổ kinh phí cho viện, trường với kết quả hợp tác và chuyển giao công nghệ; nâng cao năng lực tiếp nhận của doanh nghiệp; tạo lập thị trường ban đầu cho sản phẩm mới; phát huy vai trò tổ chức trung gian, cụ thể hóa quyền tự chủ trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Đây là nền tảng để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng nhanh, bền vững.

Bài, ảnh: MỸ THANH

Chia sẻ bài viết