Bài 2: Người thầy làm chủ AI
Việc đưa công nghệ vào dạy học không phải là câu chuyện mới. Thông tư số 09/2021/TT-BGDĐT ngày 30-3-2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về quản lý và tổ chức dạy học trực tuyến trong cơ sở giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên, tạo cơ sở cho việc tổ chức các hoạt động dạy học trên môi trường số.
Một giáo án có AI hỗ trợ
Trên màn hình máy tính, một giáo viên nhập yêu cầu tìm kiếm ý tưởng cho tiết học sắp tới. Chỉ sau ít giây, công cụ trí tuệ nhân tạo đưa ra hàng loạt gợi ý về hoạt động khởi động, câu hỏi thảo luận, nhiệm vụ học tập, bài đọc và phương án tổ chức lớp học.
Nhưng những nội dung ấy chưa phải là giáo án hoàn chỉnh. Người giáo viên phải đọc, kiểm tra, đối chiếu với mục tiêu bài học, điều chỉnh ngữ liệu và lựa chọn nội dung phù hợp với trình độ học sinh.
AI có thể tạo câu trả lời nhanh, nhưng không biết đầy đủ đặc điểm của một lớp học cụ thể, không hiểu hoàn cảnh từng học sinh và không thể tự quyết định hoạt động nào phù hợp nhất với mục tiêu giáo dục. Những quyết định ấy vẫn thuộc về người thầy.

Giáo viên sử dụng AI hỗ trợ soạn giảng.
Quán triệt Công văn 4324/BGDĐT-CNTT ngày 14-8-2024 hướng dẫn nhiệm vụ công nghệ thông tin và chuyển đổi số năm học 2024-2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tại Trường THPT chuyên Vị Thanh, AI từng bước được giáo viên tiếp cận trong soạn giảng, thiết kế học liệu, xây dựng câu hỏi, kiểm tra và đánh giá.
Sự xuất hiện của AI chỉ đóng vai trò hỗ trợ, không vì thế mà mất đi vai trò của giáo viên. Ngược lại, nó đặt ra yêu cầu mới: người thầy phải biết sử dụng công nghệ, đồng thời đủ năng lực kiểm soát, thẩm định và chịu trách nhiệm về sản phẩm do công nghệ hỗ trợ tạo ra.
AI bước vào phòng chuyên môn
AI bước vào phòng chuyên môn trước hết bằng những câu hỏi của giáo viên. Từ chiếc máy tính cá nhân, công cụ AI xuất hiện trong quá trình chuẩn bị bài, xây dựng học liệu, thiết kế câu hỏi và tổ chức hoạt động dạy học.
Giáo viên có thể sử dụng AI để gợi ý hoạt động khởi động, xây dựng tình huống giao tiếp, thiết kế bài tập, điều chỉnh ngữ liệu theo trình độ học sinh hoặc đề xuất hình thức kiểm tra, đánh giá.
Những kinh nghiệm sử dụng AI cũng dần trở thành nội dung trao đổi trong sinh hoạt chuyên môn: cách đặt câu lệnh, cách kiểm tra kết quả, cách lựa chọn công cụ và cách điều chỉnh sản phẩm. Từ chỗ thử nghiệm một vài thao tác, giáo viên dần nhận ra AI có thể hỗ trợ nhiều công đoạn trong công việc hằng ngày.
Tuy nhiên, hiệu quả không nằm ở việc sử dụng càng nhiều công cụ càng tốt. Điều quan trọng là xác định đúng nhu cầu, lựa chọn đúng công cụ và sử dụng đúng mục đích sư phạm.
Từ soạn giảng đến kiểm tra, đánh giá
Trong soạn giảng, AI có thể hỗ trợ gợi ý hoạt động khởi động, thiết kế nhiệm vụ học tập, xây dựng tình huống giao tiếp, đề xuất hoạt động tương tác hoặc điều chỉnh ngữ liệu.
Đối với môn Tiếng Anh, AI có thể hỗ trợ tạo đoạn hội thoại, bài đọc, bài tập từ vựng, ngữ pháp và những tình huống sử dụng ngôn ngữ.
Ở khâu kiểm tra, đánh giá, AI có thể hỗ trợ gợi ý câu hỏi, phương án nhiễu, điều chỉnh mức độ khó và tạo bài luyện tập. Nhưng sản phẩm do AI tạo ra không thể sử dụng nguyên trạng.
Một bài đọc có thể có độ dài phù hợp nhưng từ vựng vượt quá trình độ của lớp. Một bộ câu hỏi có thể đúng cấu trúc nhưng chưa đánh giá đúng năng lực cần kiểm tra. Khi đó, điểm số có được không chỉ phản ánh sai năng lực của học sinh mà còn phản ánh những rào cản do chính đề kiểm tra tạo ra. “AI giúp tôi có thêm ý tưởng và phương án khi chuẩn bị bài. Tuy nhiên, nội dung do AI tạo ra vẫn phải được kiểm tra, chỉnh sửa để phù hợp với mục tiêu bài học và trình độ học sinh” - một giáo viên chia sẻ.
Từ đó, có thể thấy rõ AI mở rộng khả năng lựa chọn; và giáo viên mới là quyết định sản phẩm cuối cùng truyền tải đến người học.
AI hỗ trợ, giáo viên thẩm định
AI có thể tạo ra một bài đọc, một bộ câu hỏi hay một kế hoạch hoạt động trong thời gian ngắn. Nhưng tốc độ không đồng nghĩa với độ chính xác. Một nội dung có thể đúng về hình thức nhưng chưa phù hợp với mục tiêu bài học. Một đoạn hội thoại có thể đúng ngữ pháp nhưng cách diễn đạt chưa tự nhiên. Một hoạt động có thể hấp dẫn trên lý thuyết nhưng không phù hợp với thời lượng hoặc đặc điểm lớp học.
Vì vậy, mỗi nội dung trước khi đưa vào lớp học cần được: kiểm chứng - chọn lọc - điều chỉnh - chịu trách nhiệm.
Đối với giáo viên tiếng Anh, quá trình thẩm định còn bao gồm kiểm tra từ vựng, ngữ pháp, ngữ cảnh giao tiếp, mức độ tự nhiên của ngôn ngữ và độ khó của học liệu.
Quy trình này: AI tạo gợi ý - giáo viên kiểm tra - giáo viên điều chỉnh - giáo viên quyết định cho thấy chuyển đổi số không thay thế vai trò người thầy; công nghệ càng mạnh, trách nhiệm làm chủ công nghệ của người thầy càng lớn.
Không chạy theo AI, không lệ thuộc AI, mà làm chủ AI để phục vụ mục tiêu giáo dục mới là mạch chuyển đổi số theo định hướng của Đảng như một thông điệp về quan điểm, năng lực và trách nhiệm của con người trong quá trình chuyển đổi số.
AI càng phát triển, chuyên môn càng quan trọng
Khi máy móc có thể tạo ra một bài giảng trong vài giây, người thầy càng phải hiểu sâu mục tiêu bài học. Khi AI có thể tạo hàng chục câu hỏi, giáo viên càng phải biết câu hỏi nào thực sự có giá trị đánh giá. Khi AI có thể viết một bài đọc, giáo viên càng phải biết bài đọc đó có phù hợp với học sinh hay không. Muốn sử dụng AI hiệu quả, giáo viên phải hiểu chương trình, mục tiêu cần đạt và đặc điểm người học.
Đối với giáo viên tiếng Anh, năng lực ấy còn thể hiện ở khả năng kiểm tra tính chính xác của ngôn ngữ, độ tự nhiên của cách diễn đạt và mức độ khó của học liệu. AI có thể đưa ra nhiều phương án, nhưng năng lực chuyên môn giúp người thầy lựa chọn phương án phù hợp.
Vì thế, trong môi trường giáo dục thời AI, giáo viên ngày càng trở thành người thiết kế, định hướng, thẩm định và tổ chức quá trình học tập.
Từ biết sử dụng đến làm chủ công nghệ
Làm chủ AI không đơn giản là biết đặt câu hỏi. Đó là quá trình: Xác định mục tiêu → xây dựng yêu cầu → nhận kết quả → kiểm tra → điều chỉnh → sử dụng có trách nhiệm.
Giáo viên cũng cần nhận diện giới hạn của AI: khi nào nên sử dụng, nội dung nào có thể giao cho công cụ hỗ trợ và khâu nào nhất thiết phải do con người quyết định.
Những vấn đề liên quan đến đánh giá năng lực học sinh, nhận xét cá nhân, bảo mật thông tin và trách nhiệm nghề nghiệp không thể chuyển giao hoàn toàn cho máy móc. AI có thể là một trợ lý chuyên môn hữu ích, nhưng người thầy vẫn là người quyết định.
Và khi người thầy đã từng bước làm chủ công nghệ, câu hỏi tiếp theo đặt ra là: làm thế nào để học sinh không chỉ biết sử dụng AI mà còn trở thành những công dân có trách nhiệm trong không gian số?
TRẦN THỊ HOÀNG DIỆU
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
3. Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022–2025, định hướng đến năm 2030”.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 ban hành Chương trình giáo dục phổ thông.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Thông tư số 09/2021/TT-BGDĐT ngày 30/3/2021 quy định về quản lý và tổ chức dạy học trực tuyến trong cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024), Công văn số 4324/BGDĐT-CNTT ngày 14/8/2024 về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ ứng dụng CNTT, chuyển đổi số và thống kê giáo dục năm học 2024–2025. Văn bản này trực tiếp đề cập việc tăng cường ứng dụng AI trong dạy, học và quản lý giáo dục.
7. Thành ủy Cần Thơ (2021), Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 04/8/2021 về chuyển đổi số thành phố Cần Thơ đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.
8. Trường THPT chuyên Vị Thanh (2025), Kế hoạch số 167/KH-THPT ngày 23/9/2025 về ứng dụng CNTT và chuyển đổi số năm học 2025–2026.
9. Ban Bí thư (2025), Quy định số 339-QĐ/TW ngày 10/7/2025 về sử dụng ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử.
10. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hướng dẫn số 20-HD/TWĐTN-BTC về quản lý đoàn viên và chuyển sinh hoạt Đoàn trên môi trường số; tài liệu hướng dẫn sử dụng ứng dụng Thanh niên Việt Nam.