10/10/2026 - 16:03

Khung Kiến trúc quốc gia số phải gắn với hiệu quả từng dự án 

Khung Kiến trúc tổng thể quốc gia số được kỳ vọng tạo nền tảng kết nối, chia sẻ dữ liệu, hạn chế đầu tư trùng lặp và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách. Để đạt mục tiêu này, các dự án chuyển đổi số cần được đặt trong kiến trúc chung, gắn với trách nhiệm quản trị dữ liệu và cơ chế đánh giá kết quả thực tế.

UBND phường Thanh Khê, Đà Nẵng có tỷ lệ khai thác, sử dụng lại thông tin, dữ liệu số hóa đạt 96,09%. Ảnh minh họa: Mỹ Hà/TTXVN

Ngày 29/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1425/QĐ-TTg về Khung Kiến trúc tổng thể quốc gia số, phiên bản 1.0, tạo cơ sở tham chiếu chung cho chuyển đổi số trong toàn hệ thống chính trị. Tiếp đó, Nghị quyết số 262/NQ-CP ngày 5/9/2026 của Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn xây dựng, cập nhật, duy trì và triển khai khung kiến trúc số của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức; đồng thời xây dựng cơ chế theo dõi, giám sát và đánh giá mức độ tuân thủ.

Từ thực tiễn xây dựng Khung Kiến trúc số trong các cơ quan Đảng, ông Phạm Thế Bính, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Văn phòng Trung ương Đảng cho rằng, giai đoạn tiếp theo không chỉ là công bố một mô hình kiến trúc, mà quan trọng hơn là biến kiến trúc thành công cụ quản trị có thể triển khai, kiểm chứng và đo lường.

Khắc phục tình trạng đầu tư trùng lặp, khó kết nối

Một trong những yêu cầu đặt ra đối với chuyển đổi số hiện nay là khắc phục tình trạng mỗi cơ quan tự xây dựng các hệ thống riêng, dẫn đến đầu tư trùng lặp, khó kết nối và hạn chế khả năng chia sẻ dữ liệu. Theo ông Phạm Thế Bính, giá trị lớn của Khung Kiến trúc tổng thể quốc gia số là tạo ra một ngôn ngữ kiến trúc chung, thay vì tồn tại như những thực thể độc lập.

Mỗi hệ thống, nền tảng, cơ sở dữ liệu, dự án cần làm rõ vị trí trong kiến trúc, dữ liệu sử dụng, khả năng kết nối, thành phần có thể kế thừa, tái sử dụng, chủ thể chịu trách nhiệm quản lý và yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh. Quan trọng hơn, hiệu quả đầu ra phải có khả năng đo lường.

Cách tiếp cận này hướng tới thay đổi phương thức quản lý đầu tư công nghệ thông tin. Thay vì xem xét từng dự án riêng lẻ, các cơ quan cần quản trị danh mục đầu tư số trên cơ sở kiến trúc tổng thể, bảo đảm mỗi khoản đầu tư có vị trí rõ ràng trong kiến trúc mục tiêu và không tạo thêm những hệ thống trùng lặp với thành phần đã có.

“Một nhiệm vụ, dự án chỉ nên được phê duyệt khi chứng minh được vị trí của nó trong kiến trúc mục tiêu, quan hệ với thành phần đã có, dữ liệu sử dụng, khả năng tái sử dụng và kết quả đầu ra có thể đo lường”, ông Phạm Thế Bính nhấn mạnh.

Đây cũng là cơ sở để chuyển trọng tâm từ việc hoàn thành các hạng mục công nghệ sang hiệu quả thực chất của chuyển đổi số. Việc một hệ thống được đầu tư, đưa vào vận hành chưa đủ để khẳng định nguồn lực được sử dụng hiệu quả. Điều đó còn phụ thuộc vào khả năng kết nối với các nền tảng liên quan, chia sẻ dữ liệu và cải thiện quy trình nghiệp vụ. Ưu tiên dùng chung, kế thừa và tái sử dụng là nguyên tắc quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách. Các cơ quan cần cùng khai thác những năng lực nền tảng, dữ liệu và dịch vụ đã có, chỉ phát triển bổ sung những thành phần thực sự mang tính chuyên ngành, đặc thù.

Tuy nhiên, ông Phạm Thế Bính cho rằng, dùng chung không có nghĩa là áp dụng một cách cơ học hoặc buộc mọi cơ quan phải có hệ thống hoàn toàn giống nhau. Khung kiến trúc cần thống nhất những nguyên tắc, khả năng truy vết và liên thông giữa các thành phần, đồng thời phản ánh được sự khác biệt về nghiệp vụ, dữ liệu chuyên ngành và yêu cầu bảo vệ của từng cơ quan, tổ chức.

Từ quá trình xây dựng Khung Kiến trúc số trong các cơ quan Đảng, ông Phạm Thế Bính nêu rõ: “Bám sát Khung quốc gia không nên được hiểu là sao chép cơ học hình vẽ của Khung quốc gia; điều cần thống nhất là ngữ nghĩa, nguyên tắc và khả năng truy vết kiến trúc”.

Dữ liệu phải trở thành tài sản được quản trị

Nếu kiến trúc tạo ra trật tự cho các hệ thống số thì dữ liệu là nền tảng để các hệ thống kết nối, phục vụ điều hành và hỗ trợ ra quyết định. Một nội dung được Văn phòng Trung ương Đảng đặc biệt nhấn mạnh trong quá trình xây dựng khung kiến trúc là phải phân định rõ dữ liệu số với nền tảng số, dù hai nhóm thành phần có thể được tổ chức trong cùng một lớp kiến trúc.

Dữ liệu là tài sản cần được quản trị với những yêu cầu cụ thể về chủ thể chịu trách nhiệm, nguồn có thẩm quyền, chất lượng, vòng đời và chính sách khai thác. Trong khi đó, nền tảng số cung cấp năng lực kỹ thuật dùng chung để tích hợp, định danh, quản trị dữ liệu, phát triển ứng dụng, tự động hóa và khai thác trí tuệ nhân tạo.

Việc phân định rõ hai nhóm thành phần này giúp xác định trách nhiệm quản lý, đầu tư và khai thác. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, xác định rõ nguồn và thẩm quyền quản lý, khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác mới có cơ sở để phát huy.

Xác định phương pháp tiếp cận trong xây dựng Khung Kiến trúc số trong các cơ quan Đảng là: “Nghiệp vụ dẫn dắt - Dữ liệu làm trung tâm - AI tạo đột phá”, ông Bính cho hay, nghiệp vụ xác định bài toán cần giải quyết và giá trị cần tạo ra; dữ liệu làm nền tảng kết nối và ra quyết định; trí tuệ nhân tạo được sử dụng ở những lĩnh vực có đủ điều kiện về dữ liệu, quy trình và cơ chế kiểm soát.

Cùng với đó, ranh giới giữa nền tảng, ứng dụng và kênh tương tác cũng cần được làm rõ. Nền tảng cung cấp năng lực kỹ thuật có thể tái sử dụng; ứng dụng thực hiện nghiệp vụ cụ thể; còn kênh tương tác là điểm tiếp xúc của người dùng với ứng dụng, dữ liệu và dịch vụ số. Phân định đúng chức năng của từng thành phần là điều kiện để thẩm định dự án và kiểm soát trùng lặp.

Một vấn đề khác là bảo đảm nguyên tắc ưu tiên dùng chung đi cùng khả năng đáp ứng thực tế. Theo Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Văn phòng Trung ương Đảng, một thành phần chỉ thực sự có thể coi là sẵn sàng dùng chung khi đã xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm, phạm vi phục vụ, chức năng, dữ liệu cung cấp, giao diện kết nối, năng lực đáp ứng, đầu mối hỗ trợ và yêu cầu bảo vệ. Nếu một nền tảng mới dừng ở chủ trương xây dựng, chưa sẵn sàng cung cấp chức năng hoặc dữ liệu cần thiết nhưng cơ quan, địa phương vẫn không được triển khai giải pháp cần thiết sẽ dẫn đến khoảng trống chuyển đổi số.

Đo hiệu quả bằng khả năng kết nối, tái sử dụng và cải thiện công việc

Để Khung Kiến trúc tổng thể quốc gia số trở thành công cụ quản trị thực chất, yêu cầu đặt ra là kiến trúc phải là một thực thể sống. Các thành phần dùng chung cần được quản lý theo trạng thái trưởng thành, từ định hướng, thí điểm đến vận hành mở rộng có điều kiện, vận hành ổn định và dùng chung chính thức; sau đó có thể được thay thế, hợp nhất hoặc dừng khi không còn phù hợp. Việc xác định đúng trạng thái giúp cơ quan quản lý có căn cứ quyết định khi nào cần sử dụng thành phần dùng chung, khi nào được phép bổ sung giải pháp và khi nào phải chấm dứt đầu tư trùng lặp.

Ông Phạm Thế Bính cho biết, đối với các cơ quan Đảng, Văn phòng Trung ương Đảng định hướng xây dựng hệ thống quản trị Kiến trúc số thống nhất, phục vụ quản lý danh mục và quan hệ giữa các thành phần kiến trúc, chủ thể quản trị, hiện trạng, mục tiêu, lộ trình chuyển đổi và kết quả đánh giá tuân thủ. Hệ thống này đồng thời là cơ sở gắn quản trị kiến trúc với thẩm định và kiểm soát đầu tư.

Nhìn từ thực tiễn xây dựng Khung Kiến trúc số trong các cơ quan Đảng, bài toán chuyển đổi số không chỉ nằm ở lựa chọn công nghệ hay thiết kế một mô hình chung mà điều quan trọng là tạo được mối liên kết giữa nghiệp vụ, dữ liệu, nền tảng, đầu tư và trách nhiệm quản trị; đồng thời có cơ chế kiểm chứng để biết nguồn lực được sử dụng ra sao và kết quả mang lại như thế nào.

Ông Phạm Thế Bính nhấn mạnh, giá trị của Khung Kiến trúc tổng thể quốc gia số phải được đo bằng kết quả triển khai thực tế: giảm đầu tư trùng lặp, tăng khả năng tái sử dụng và chia sẻ dữ liệu, rút ngắn quy trình, nâng cao chất lượng lãnh đạo, quản lý và phục vụ, đồng thời kiểm soát hiệu quả từng đồng ngân sách dành cho chuyển đổi số.

Chu Thanh Vân/TTXVN

Chia sẻ bài viết

Link gốc: https://baotintuc.vn/khung-kien-truc-quoc-gia-so-phai-gan-voi-hieu-qua-tung-d...