 |
|
ĐBSCL có nhiều trái ngon. |
Nói đến Việt Nam, thường mọi người nghĩ ngay đến đất nước có nhiều hàng hóa nông sản, nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ruộng vườn bao la cò bay thẳng cánh, lúa gạo đầy nhà, cây trái sum suê trĩu quả, tôm cá đầy ghe... Tuy giàu sản vật nhưng thương hiệu hàng hóa nông sản còn rất mờ nhạt. Lúa gạo được xem là mặt hàng nông sản xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, đã hơn 20 năm xuất khẩu gạo, trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 của thế giới nhưng hiện nay lúa gạo Việt Nam chưa có thương hiệu trên thị trường thế giới. ĐBSCL có nhiều loại trái ngon như vú sữa lò rèn Vĩnh Kim, xoài cát Hòa Lộc, bưởi da xanh, bưởi Năm Roi, sầu riêng RI6, sầu riêng Chín Hóa, cam sành... Thế nhưng hiện nay các thương hiệu trái cây này gần như chưa có mặt trên thị trường quốc tế.
Theo số liệu của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), trong hơn 90.000 thương hiệu hàng hóa các loại được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam, chỉ mới có khoảng 15% là của Việt Nam và có đến 90% hàng nông sản của Việt Nam được bán ra thị trường thế giới thông qua thương hiệu nước ngoài, gây thiệt hại cho nền kinh tế lên đến hàng trăm triệu USD. Hiện nay, mới có khoảng 20% nhãn hiệu nông sản Việt Nam được đăng ký. Cục Sở hữu trí tuệ cho biết cả nước có 964 đặc sản nông nghiệp gắn với 733 địa danh nhưng hiện nay chỉ có 23 sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý (2 của nước ngoài và 21 trong nước). TS. Võ Mai, Phó Chủ tịch Hội làm vườn Việt Nam, cho biết thêm khi điều tra 173 doanh nghiệp ngành nông nghiệp thì chỉ 36 doanh nghiệp có đăng ký thương hiệu trong nước, trong đó chỉ có 5 doanh nghiệp đăng ký thương hiệu ở nước ngoài. 9/11 tổng công ty thuộc Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đăng ký thương hiệu cho 107 mặt hàng, trong đó chỉ có 4 sản phẩm đăng ký ở nước ngoài. 15/58 hội viên Hiệp hội Trái cây Việt Nam đã đăng ký bảo hộ thương hiệu trong nước. Theo TS. Võ Mai, điều tra 500 doanh nghiệp các ngành, chỉ có 4,2% cho thương hiệu là vũ khí cạnh tranh, 5,4% cho thương hiệu là tài sản của doanh nghiệp; 30% cho rằng thương hiệu giúp bán hàng được giá cao hơn, 16% doanh nghiệp có bộ phận tiếp thị chuyên trách và 80% không có người quản lý.
Như vậy, thương hiệu nông sản chưa được quan tâm đúng mức và thiếu nguồn nhân lực nên thương hiệu hàng hóa nông sản Việt Nam còn mờ nhạt cả thị trường trong và ngoài nước. Điều đó làm cho năng lực cạnh tranh hàng hóa nông sản Việt Nam thấp, không bán được giá cao, lợi nhuận của người sản xuất và doanh nghiệp kém.
Hội thảo “Vai trò doanh nghiệp trong xây dựng thương hiệu, nâng cao chuỗi giá trị nông sản thời hội nhập” tổ chức tại TP Cần Thơ gần đây, vấn đề thương hiệu nông sản đã được nhiều diễn giả và người tham dự quan tâm. Bởi lẽ, Việt Nam là nước nông nghiệp có nhiều loại nông sản có giá trị trong đó có những sản phẩm xuất khẩu đứng vị trí thứ nhất, thứ nhì thế giới như lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, chè... Trong khi đó nông sản Việt Nam hiện vẫn chưa xây dựng được thương hiệu cho riêng mình. TS Trần Thị Ba, Trường Đại học Cần Thơ, nhiều năm gắn bó với người trồng rau màu ở ĐBSCL, cho biết: “Trong những năm gần đây, cùng với đa dạng hóa vật nuôi cây trồng, nông dân trồng lúa ĐBSCL đang dần chuyển đổi thế độc canh cây lúa sang trồng một số loại cây rau màu ngắn ngày để cải thiện kinh tế gia đình. Tuy nhiên, thực tế ngành sản xuất rau chỉ mới nhắm đến phục vụ thị trường trong nước. Hầu hết, rau của nông dân, hợp tác xã bán cho siêu thị và vẫn mang nhãn hàng của siêu thị. Đây là khó khăn lớn cho nông dân trồng rau an toàn vùng ĐBSCL. Họ rất mong muốn có chứng nhận nhãn hiệu riêng cho mình để được người tiêu dùng biết đến và tin dùng”.
Thời gian qua, hàng loạt thương hiệu nông sản nổi tiếng Việt Nam bị đánh cắp nhãn hiệu, được xem là sự cảnh báo cần phải cấp bách bảo vệ thương hiệu cho nông sản Việt Nam, nhất là trong thời hội nhập kinh tế quốc tế. Hàng hóa nông sản phải đáp ứng nhu cầu thị trường bằng chất lượng cao (ngon, màu sắc đẹp, đúng mùi vị, bổ dưỡng, an toàn), giá thành cạnh tranh, bao bì tốt, bắt mắt, nhãn mác hấp dẫn, uy tín... Hay nói khác hơn là hàng hóa nông sản phải có thương hiệu được biết đến để luôn xuất hiện trong tâm trí người tiêu dùng khi họ cần đến sản phẩm loại đó. Bước vào thời hội nhập, nông dân không thể tự sản, tự tiêu mà phải liên kết với doanh nghiệp để có kế hoạch sản xuất theo đơn hàng của khách hàng, không thể ở “ao vườn” mà phải vươn ra “biển lớn” , do đó chất lượng và thương hiệu hàng hóa nông sản trở nên vấn đề phải được quan tâm đúng mức. Tuy nhiên, nông dân những người làm ra hàng hóa nông sản không thể xây dựng thương hiệu được, mà phải có sự hợp tác từ các hiệp hội, ngành hàng và cơ quan nhà nước, chung tay góp sức của các doanh nghiệp cùng xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam, để định vị được chỗ đứng trên thị trường trong nước và quốc tế.
Bài, ảnh: HUỲNH BIỂN