06/04/2017 - 17:08

Kỳ vọng du lịch ĐBSCL

Du lịch ĐBSCL vốn giàu tiềm năng nhưng sự phát triển chưa có chiến lược cấp vùng và kết nối giữa các địa phương. Vì vậy Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (quy hoạch) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 2227/QĐ- TTg, ngày 18-11-2016 mang đến kỳ vọng làm thay đổi tích cực ngành công nghiệp không khói vùng Tây Nam Bộ.

Nhìn thẳng điểm yếu

 Sông nước là thế mạnh để khai thác sản phẩm du lịch đặc trưng ở ĐBSCL. Trong ảnh: Du khách thích thú với trải nghiệm bơi thuyền thúng tại Bảo gia trang viên.

Thống kê từ Tổng cục Du lịch, lượng khách nội địa đến ĐBSCL giai đoạn 2006-2015 đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 12%/năm. Tổng khách nội địa đến vùng năm 2015 (không sử dụng dịch vụ lưu trú), đạt trên 18 triệu lượt. Với kết quả này, ĐBSCL đứng thứ 3 trên cả nước, sau Đồng bằng sông Hồng- Duyên hải Đông Bắc, vùng Đông Nam Bộ. Khách quốc tế cũng có mức tăng trưởng khá nhanh, đạt 8,45%/năm trong giai đoạn 2006-2015. Năm 2015, ĐBSCL đón trên 1,8 triệu lượt khách quốc tế, đứng thứ 4 cả nước. Khách đến ĐBSCL tăng chủ yếu nhờ các sự kiện, lễ hội. Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ thu hút du khách quốc tế; còn An Giang là địa phương hút nhiều khách nội địa nhất. Tổng thu từ du lịch trong vùng tăng nhanh với tỷ lệ 23,6% giai đoạn 2006-2015. Năm 2015, tổng doanh thu đạt trên 8.600 tỉ đồng, tăng gấp 8 lần so với năm 2006. Mặc dù tỷ lệ tăng trưởng nhanh, nhưng tổng thu từ khách du lịch ĐBSCL còn chiếm tỷ trọng nhỏ, chưa tới 3% của cả nước, thấp nhất trong 7 vùng du lịch.

ĐBSCL rõ ràng có sức hút với du khách, khi đứng ở vị trí trung bình về lượng khách đến. Tuy nhiên, tổng doanh thu du lịch lại xếp vị trí cuối cùng. Mức chi tiêu trung bình của du khách tại vùng năm 2015 chỉ đạt khoảng 420.000 đồng/ngày đêm. Chỉ số này cao nhất ở Kiên Giang, Cần Thơ và Cà Mau. Điều này cho thấy tỷ lệ khách nội địa vùng (khách lễ hội, tín ngưỡng rất cao), lượng khách đi về trong ngày khá lớn (khách lưu trú không quá 1,3 ngày).

Nguyên nhân quan trọng của tình trạng trên là sản phẩm du lịch của vùng chưa tạo giá trị tương xứng. Tài nguyên du lịch tự nhiên quan trọng nhất của vùng ĐBSCL là sông nước, miệt vườn gắn với dòng sông Mekong, hệ thống kênh rạch chằng chịt, các cồn, cù lao, đồng ruộng, vườn cây ăn trái. Đây là tài nguyên du lịch đặc thù của vùng, bên cạnh tài nguyên du lịch văn hóa, tâm linh, lễ hội, làng nghề, ẩm thực… Tuy nhiên, thời gian qua, các địa phương vẫn chưa phát huy nét đặc thù để tạo sự khác biệt, khiến cho sản phẩm du lịch vùng đơn điệu, dàn trải và trùng lắp.

Xác định thế mạnh

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 được công bố và triển khai đã xác định được thế mạnh và sản phẩm đặc trưng của ĐBSCL: loại hình sông nước- miệt vườn; bên cạnh phát triển du lịch văn hóa, tâm linh, sinh thái, biển đảo, cộng đồng, MICE (hội nghị, hội thảo, sự kiện), tìm hiểu di tích- di sản văn hóa… Từ đó hướng đến mục tiêu đón khoảng 34 triệu lượt khách (đến năm 2020, trong đó có khoảng 3,5 triệu lượt khách quốc tế); đón khoảng 52 triệu lượt khách (đến năm 2030, trong đó khoảng 6,5 triệu lượt khách quốc tế). Tổng thu từ khách du lịch đến năm 2020 đạt khoảng 25 nghìn tỉ đồng; đến năm 2030 đạt trên 111 nghìn tỉ đồng.

Quy hoạch cũng cụ thể hóa từng phần việc cần tập trung. Thứ nhất là phát triển 5 khu du lịch quốc gia: Thới Sơn nằm trong cụm cù lao Long Lân Quy Phụng (Tiền Giang, Bến Tre), Phú Quốc (Kiên Giang), Năm Căn- Mũi Cà Mau (Cà Mau), Tràm Chim- Láng Sen (Long An, Đồng Tháp), Núi Sam (An Giang). Bên cạnh đó triển khai đề án 7 điểm du lịch quốc gia: Khu phức hợp giải trí Xứ sở Hạnh phúc (Long An), Cù lao Ông Hổ (An Giang), Khu lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Bạc Liêu), Bến Ninh Kiều (Cần Thơ), Hà Tiên (Kiên Giang), Văn Thánh Miếu (Vĩnh Long), Ao Bà Om (Trà Vinh).

Trong quy hoạch, TP Cần Thơ và đảo Phú Quốc (Kiên Giang) là trung tâm du lịch và điều phối khách cho toàn vùng; TP Mỹ Tho (Tiền Giang) là trung tâm của không gian du lịch phía Đông- trung tâm phụ trợ của vùng. 4 chương trình phát triển du lịch cũng sẽ được thực hiện: Phát triển nguồn nhân lực du lịch; Xúc tiến quảng bá và xây dựng thương hiệu du lịch vùng; Bảo tồn, tôn tạo, phát triển tài nguyên, ứng phó với biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng; Phát triển hạ tầng du lịch then chốt.

Các địa phương bắt tay hành động

Ông Nguyễn Thanh Phong, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Du lịch ĐBSCL, cho biết: "Du lịch ĐBSCL thiếu sự kết nối nên sản phẩm chưa rõ tính đặc trưng. Đây là lần đầu tiên ĐBSCL có quy hoạch du lịch, xác định rõ ràng sản phẩm và không gian gian du lịch ở từng địa phương. Nếu triển khai hiệu quả, du lịch ĐBSCL sẽ có bước phát triển mới". Để làm được điều này, cần sớm thành lập Ban điều phối thực quyền, nhằm "cầm trịch" hoạt động phối hợp ở các địa phương. Mặc dù Hiệp hội Du lịch ĐBSCL đã hình thành hai cụm hợp tác (phía Đông gồm Tiền Giang, Bến Tre, Long An, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Trà Vinh; phía Tây gồm Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Hậu Giang), nhưng sự liên kết giữa các tỉnh, thành chưa hiệu quả khi các địa phương vẫn chưa cùng nhau xây dựng hệ thống tour tuyến và sản phẩm đặc thù.

Ông Mai Văn Huỳnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang, cho biết: "Địa phương sẽ rà soát, quy hoạch du lịch Kiên Giang phù hợp với quy hoạch chung của vùng. Với thế mạnh biển đảo, Kiên Giang tiếp tục khai thác tiềm năng này, tập trung đầu tư cảng biển, đường hàng không; xác định Phú Quốc sẽ trở thành điểm trung chuyển khách thứ hai vùng ĐBSCL, chỉ sau TP Cần Thơ". Ông Mai Văn Huỳnh cho rằng việc kết nổi với các loại hình du lịch khác như: sinh thái ở Vĩnh Long, du lịch tâm linh ở An Giang sẽ thực sự tạo nên sức hút cho du khách. Đồng quan điểm, ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, nói thêm: "Nếu xác định thế mạnh mỗi tỉnh, thành: biển đảo ở Kiên Giang, núi và tâm linh ở An Giang, Bạc Liêu có đờn ca tài tử, còn Tiền Giang, Bến Tre phát triển sông nước miệt vườn, Cần Thơ phát huy đô thị sông nước với du lịch MICE thì sẽ làm phong phú hệ thống sản phẩm; việc kết nối tour, tuyến cũng hiệu quả hơn".

Ông Lê Văn Tâm, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Cần Thơ, cho biết: "Cần Thơ đã xác định đô thị sông nước là sản phẩm đặc trưng của địa phương, thông qua điều chỉnh Quy hoạch tổng thế phát triển du lịch TP Cần Thơ năm 2020, định hướng đến 2030. Thành phố cũng tăng cường đầu tư về hạ tầng du lịch đồng bộ, đưa Cần Thơ trở thành điểm trung chuyển hàng đầu trong vùng, phát huy thế mạnh đô thị trung tâm". Còn ông Phạm Thế Triều Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang, chia sẻ: "An Giang đã quy hoạch và xác định thế mạnh du lịch văn hóa tín ngưỡng. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đang hoàn thiện các đề án về hạ tầng du lịch, đào tạo nguồn nhân lực và quảng bá, xúc tiến". Tuy nhiên để việc triển khai quy hoạch du lịch vùng đạt hiệu quả, ông Phạm Thế Triều cho rằng cần có cơ chế chính sách ưu đãi về phát triển du lịch cho ĐBSCL, cũng như xây dựng một diễn đàn đầu tư du lịch.

Ông Hà Văn Siêu- Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, cho biết: "Chúng tôi đang đề nghị thành lập Vụ điều phối phát triển du lịch. Trong khi đợi "nhạc trưởng", các địa phương nên chủ động xây dựng chương trình hành động, hình thành sản phẩm đặc trưng, góp phần làm thay đổi diện mạo du lịch ĐBSCL". 

Bài, ảnh: ÁI LAM

Chia sẻ bài viết