22/07/2010 - 21:34

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Để phát triển thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn

Bài cuối: LÀM GÌ ĐỂ PHÁT TRIỂN THỦY SẢN BỀN VỮNG?

Với những đóng góp to lớn trong phát triển kinh tế – xã hội thời gian qua, ngành thủy sản (TS) ĐBSCL và cả nước đã và đang được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn. Tuy nhiên với những lợi thế, tiềm năng, thách thức và những dự báo cung cầu trong quá trình phát triển; đặc biệt, khi xu hướng phát triển TS đang chịu nhiều rủi ro cùng với sự cạnh tranh khốc liệt những mặt hàng TS của các nước trên thị trường thế giới, đòi hỏi ngành TS ĐBSCL phải có chiến lược phát triển phù hợp với tư tưởng chủ đạo trong chiến lược phát triển TS của cả nước.

Quan tâm đầu tư xây dựng hoàn thiện hậu cần nghề cá (chợ, bến cảng…) là một trong những yêu cầu thiết yếu cho sự phát triển thủy sản ĐBSCL. Trong ảnh: Hoạt động nhộn nhịp tại chợ thủy sản thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Ảnh: T. LONG

PHÁT TRIỂN CHIỀU SÂU

Theo Viện Kinh tế và Quy hoạch TS, kinh tế thế giới đang có nhiều biến động, xu hướng phát triển TS của các nước ngày càng đa dạng và cạnh tranh quyết liệt, nhất là cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ khắp nơi trên thế giới. Trong bối cảnh này, đặc biệt là việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), TS Việt Nam đang chuyển hướng từ phát triển chiều rộng sang phát triển chiều sâu, tiếp tục là một trong những hướng phát triển của nền kinh tế quốc dân. Chính vì thế, nhiều định hướng phát triển TS của các thời kỳ trước không còn phù hợp với bối cảnh mới. Đây cũng là yêu cầu bức bách cho “Chiến lược phát triển TS Việt Nam đến năm 2020”.

Phó Giáo sư - Tiến sĩ (PGS.TS) Lê Tiêu Nga, Viện trưởng Viện Kinh tế và Quy hoạch TS, cho biết: Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 theo Nghị quyết số 09-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X ngày 9-2-2007 (viết tắt là Nghị quyết số 09-NQ/TW), xác định: Phải phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5-8-2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (viết tắt là Nghị quyết số 26-NQ/TW), khẳng định: “nông nghiệp, nông dân, nông thôn là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường”. Chính vì thế, “Chiến lược phát triển TS Việt Nam đến năm 2020” là bộ phận cấu thành của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 theo Nghị quyết số 09-NQ/TW và là bộ phận cấu thành của vấn đề về nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo Nghị quyết số 26-NQ/TW. Đây là những tư tưởng xuyên suốt từ quan điểm chỉ đạo đến mục tiêu và các định hướng nhiệm vụ lớn trong phát triển TS.

Theo Bộ NN&PTNT, hiện Tổng cục TS đang nhanh chóng hoàn thiện các thủ tục để Chính phủ sớm phê duyệt “Chiến lược phát triển TS đến 2020” trong những tháng cuối năm 2010. Theo Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tùng, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế và Quy hoạch TS: Phát triển TS ĐBSCL đến năm 2015 định hướng đến năm 2020 không nằm ngoài những tư tưởng chủ đạo của Chiến lược phát triển TS đến năm 2020. Ngoài ra, phát triển TS ĐBSCL phải đúng tinh thần Nghị quyết số 21/NQ-TW ngày 20- 1- 2003 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 14/2003/CT-TTg ngày 5 -6 -2003 của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh - quốc phòng vùng ĐBSCL thời kỳ 2001 – 2010.

ĐỂ ĐBSCL LÀ TRUNG TÂM NGHỀ CÁ LỚN NHẤT NƯỚC

Theo định hướng phát triển, ĐBSCL tiếp tục là trung tâm nghề cá lớn nhất cả nước, đặc biệt là NTTS; đẩy mạnh khai thác có hiệu quả và duy trì quy mô diện tích nuôi hiện có với các mô hình nuôi thích hợp với từng vùng, tập trung tăng năng suất và giá trị gia tăng sản phẩm. Theo đó, giai đoạn 2008-2010 sẽ khai thác khoảng 57% tổng diện tích có khả năng, tăng 4% so với năm 2007. Giai đoạn 2011-2015 sẽ tăng lên 60% và định hướng đến năm 2020 sẽ khai thác không quá 64% tổng diện tích có khả năng của vùng. Tốc độ tăng diện tích nuôi của các địa phương trong vùng sẽ giảm từ 4,8%/năm (giai đoạn năm 2001-2007) xuống còn 1,48%/năm giai đoạn 2008-2020. Một số chỉ tiêu cụ thể như: năm 2015 tổng diện tích đưa vào NTTS toàn vùng ĐBSCL khoảng 830.000 ha, sản lượng 2,97 triệu tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 4,47 tỉ USD, giải quyết được việc làm cho 2,1 triệu lao động trực tiếp; sản lượng chế biến đạt 1 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 4,0 tỉ USD. Định hướng đến năm 2020, diện tích NTTS 890.000 ha, sản lượng 3,6 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu 4,7 tỉ USD, số lao động trực tiếp tham gia NTTS 2,2 triệu người; sản lượng chế biến đạt 1,5 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt từ 5-5,5 tỉ USD...

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tùng, cho rằng: Phát triển TS ĐBSCL, cần phải cân đối giữa tốc độ tăng trưởng và khả năng đáp ứng của thị trường, cũng như khả năng đầu tư của từng địa phương. Đặc biệt là phải duy trì tốc độ tăng trưởng sản xuất trong nhiều năm qua, phù hợp với điều kiện sản xuất của người dân và tình hình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất, mặt nước và các đối tượng nuôi trong vùng; từng bước chuyển dịch những mô hình nuôi có cấp kỹ thuật thấp sang mô hình áp dụng cấp kỹ thuật cao để tăng năng suất, sản lượng và bảo vệ môi trường sinh thái. Đồng thời, đưa lĩnh vực NTTS vùng phát triển mạnh, tập trung tư phát triển các đối tượng chủ lực như: tôm sú, cá tra, tôm chân trắng, cá rô phi, nghêu phục vụ xuất khẩu; phát triển nuôi các đối tượng có giá trị cao cung cấp cho thị trường trong nước như: tôm càng xanh, cá điêu hồng, chim trắng, cá thác lác, cá bống tượng, sò huyết, vẹm xanh, bào ngư, ốc hương và ngọc trai... Phương thức nuôi chủ yếu là quảng canh cải tiến đối với tôm sú và nghêu; nuôi thâm canh đối với tôm chân trắng và cá tra. Các đối tượng khác nuôi theo phương thức quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh. Vùng nuôi tập trung trọng điểm trong phát triển NTTS nước mặn, lợ của vùng là Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh và Bến Tre; nuôi nước ngọt tập trung ở các tỉnh ven sông Hậu và sông Tiền như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long.

Ngoài ra, vùng biển ĐBSCL cần được đầu tư, phát triển hợp lý đội tàu khai thác xa bờ; đồng thời, củng cố và nâng cấp các nhà máy chế biến hiện có; hình thành các trung tâm hậu cần dịch vụ nghề cá ven biển để đảm bảo cho sự phát triển.

GIẢI PHÁP PHẢI ĐỒNG BỘ, ĐẦU TƯ HỢP LÝ

Theo Viện Kinh tế và Quy hoạch TS, đến năm 2020, phấn đấu ngành TS vùng ĐBSCL và cả nước cơ bản hoàn thành công nghiệp hóa, là ngành xuất khẩu mũi nhọn, có khả năng cạnh tranh và hội nhập vững chắc vào kinh tế thế giới, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh biển, đảo theo hướng phát triển bền vững. Để đạt được các mục tiêu vừa nêu, theo tiến sĩ Nguyễn Thanh Tùng, ngành TS ĐBSCL cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về nuôi trồng, khai thác, chế biến và tiêu thụ TS.

Cụ thể như: Các địa phương vùng ĐBSCL tập trung rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển NTTS, gắn sản xuất với yêu cầu của thị trường. Đây là yêu cầu cấp thiết nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu TS chế biến và tiêu dùng đạt mức hợp lý, tránh tình trạng cung vượt cầu. Việc quy hoạch thủy lợi cho phát triển TS vùng ĐBSCL phải được đặt trong một tổng thể rộng hơn có liên hệ hài hòa giữa các ngành và các địa phương trong sử dụng nước sản xuất nông nghiệp – TS,... Đặc biệt, trong phát triển NTTS, vùng ĐBSCL cần bố trí đối tượng nuôi phù hợp theo các kịch bản biến đổi khí hậu. Người dân phải tổ chức lại sản xuất theo hướng quản lý cộng đồng thông qua việc thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã, hiệp hội nuôi... nhằm gắn kết giữa “4 nhà” (nhà nông, doanh nghiệp, Nhà nước và nhà khoa học), gắn kết với TP Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ trong xây dựng vùng nguyên liệu, ứng dụng các qui trình nuôi tiên tiến. Trong vấn đề khai thác TS, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích và hỗ trợ người dân, đặc biệt đối với ngành nghề khai thác hải sản xa bờ đầu tư đầy đủ các máy móc trang thiết bị phục vụ trên tàu mới và hiện đại nhất (máy định vị, máy dò cá, máy thông tin liên lạc tầm xa và gần...). Bên cạnh đó, dịch vụ hậu cần phục vụ phát triển khai thác TS cần được quan tâm phát triển. Cụ thể như: Nhà nước cần tập trung đầu tư xây dựng nâng cấp các cảng cá trung tâm ở các vùng có nghề cá trọng điểm với quy mô lớn cho tàu có công suất từ 90 cv đến trên 600 Cv; xây dựng kết hợp khu neo đậu tránh bão và dịch vụ hậu cần lớn; hiện đại hóa và mở rộng các cơ sở đóng, sửa tàu cá và đầu tư xây dựng các chợ TS đầu mối theo hướng gắn với các cảng cá quan trọng ở các vùng, miền; tạo ra các trung tâm nghề cá, góp phần đô thị hóa các vùng nông thôn ven biển và tạo môi trường phát triển nghề cá theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Đối với chế biến và tiêu thụ TS, vùng ĐBSCL cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp chế biến tập trung, tạo điều kiện thuận lợi nhất về mặt bằng, giảm giá cho thuê đất,... tạo điều kiện thuận lợi nhất để thu hút các doanh nghiệp vào các khu công nghiệp chế biến tập trung; tiếp tục nâng cấp điều kiện sản xuất, áp dụng hệ thống quản lý đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo 100% doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thực hiện đầy đủ quy chuẩn Quốc gia về vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra, doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ TS vùng ĐBSCL cần tiếp tục đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị, cơ giới hóa và tự động hóa dây chuyền chế biến; mở rộng chủng loại và khối lượng các mặt hàng TS chế biến có giá trị gia tăng...

Các bộ ngành hữu quan, các địa phương vùng ĐBSCL và cả nước phải tập trung rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản, gắn sản xuất với yêu cầu thị trường; bảo vệ nguồn lợi TS và môi trường sống. Bên cạnh đó, phải tạo được chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – xuất khẩu TS; phát huy tốt nhất tiềm năng, lợi thế để phát triển bền vững, hiệu quả trong sản xuất kinh doanh TS; cải thiện nhanh hơn, tốt hơn đời sống của người nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản. Thúc đẩy sự gắn kết xây dựng cơ sở hạ tầng chế biến xuất khẩu TS với tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ quản lý và đội ngũ kỹ thuật đảm bảo phát triển ngành TS theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa như tinh thần Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông thôn và nông dân.

(Trích phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Festival TS Việt Nam lần thứ I năm 2010)

Ngoài ra, trong nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ TS, vấn đề môi trường cần phải được giải quyết một cách rốt ráo để TS vùng ĐBSCL có thể phát triển một cách bền vững. Muốn vậy, các ngành hữu quan cần xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường ngành TS hàng năm phục vụ cho công tác quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên; tiến hành nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn chất thải trong các doanh nghiệp chế biến và tiêu chuẩn nước thải trong các cơ sở nuôi TS để quản lý ô nhiễm, phục vụ cho các qui chế quản lý môi trường. Trên cơ sở đó, lập dự án xây dựng hệ thống quan trắc và cảnh báo môi trường TS; Bộ NN&PTNT, Bộ TN&MT nên có văn bản quy định bắt buộc tất cả các doanh nghiệp chế biến TS đồng loạt đầu tư xây dựng hệ thống xử lý các chất thải theo lịch trình cụ thể, phải thống kê được tất cả nguồn thải, tiến hành kiểm soát ô nhiễm thường xuyên, từ đó áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn...

Ngoài các vấn đề nêu trên, theo Viện Kinh tế và Quy hoạch TS, chỉ tính riêng cho đầu tư xây dựng cơ bản phục vụ NTTS của vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2008-2020 cần khoảng 35.027 tỉ đồng. Chính vì thế, ngay từ bây giờ cần có chính sách đầu tư hợp lý, đầy đủ theo thứ tự ưu tiên từ phía Nhà nước, các doanh nghiệp trong và ngoài nước, các tổ chức phi Chính phủ và đặc biệt là của người dân. Có như vậy, ngành TS ĐBSCL và cả nước trong tương lai mới có thể tiếp tục khẳng định là mũi nhọn kinh tế, phát triển theo đúng định hướng góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X và Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5-8-2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn...

MINH LÊ

Chia sẻ bài viết