* Gia Bảo
Kỳ 1: Hội nhập nhanh, nhưng chưa bền vững
 |
|
Nước thải từ nuôi trồng thủy sản chưa qua xử lý sẽ góp phần làm ô nhiễm nguồn nước.
Ảnh: T.HÀ. |
Thực tiễn hơn 25 năm đổi mới, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được đánh giá là vùng kinh tế năng động, hiện đóng góp khoảng 20% GDP, chiếm 46,7% diện tích trồng lúa và khoảng 70% sản lượng thủy sản cả nước
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của vùng đang bộc lộ nhiều bất cập, tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) làm thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, đe dọa sự phát triển bền vững của khu vực này. Đây là thách thức lớn mà ĐBSCL phải đối mặt trong hiện tại và tương lai.
Xuất phát điểm thấp
Giai đoạn 2006- 2010, tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL đạt bình quân 13,01%/năm. Mặc dù chịu tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu và những khó khăn nội tại của nền kinh tế từ 2008 đến nay, nhưng ĐBSCL vẫn tăng trưởng đều trên các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xuất khẩu. Tính đến cuối năm 2010, tỷ trọng khu vực nông lâm- nghiệp- thủy sản chiếm 39%, công nghiệp- xây dựng 26%, dịch vụ 35% trong cơ cấu GDP của vùng, khoảng cách phát triển giữa các địa phương được thu hẹp dần. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, ĐBSCL tăng trưởng ấn tượng, nhưng mức đầu tư cho ĐBSCL vẫn thấp hơn mức mà vùng này đóng góp. Nguồn lực cho phát triển, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư phát triển đến 60% tập trung cho khu vực đô thị, khu trung tâm, các thị trấn, thị tứ, trong khi hạ tầng nông thôn chậm phát triển. Đời sống của người dân trong vùng được cải thiện đáng kể, nhưng thu nhập chưa tăng tương xứng với tiềm năng và có nguy cơ tụt hậu, giai đoạn 1999-2002, thu nhập bình quân đầu người/tháng của vùng ĐBSCL cao hơn mức bình quân cả nước, còn từ năm 2004 trở lại đây, mức thu nhập này thấp hơn mức cả nước, khoảng cách giàu nghèo cũng tăng nhanh.
Theo tính toán của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hàng năm, quá trình canh tác nông nghiệp và xay xát lúa gạo đã thải ra môi trường khoảng 17,4 triệu tấn rơm rạ phế thải; 2,47 triệu tấn/năm ngọn lá mía phế thải, lượng bã mía phát sinh 1,42 triệu tấn/năm và bùn thải sản xuất mía đường khoảng 0,94 triệu tấn/năm. Chất thải chăn nuôi trâu, bò thải ra khoảng 0,85 triệu tấn/năm, chăn nuôi heo khoảng 21,22 triệu tấn/năm... Hàng năm, khu vực ĐBSCL sử dụng khoảng 2 triệu tấn phân bón hóa học, 500.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật và các chế phẩm sinh học, nhưng dư lượng hấp thu trong đất chỉ khoảng 40%, còn lại là trôi ra môi trường. Đây là nguồn gây ô nhiễm môi trường sinh thái, tác hại lớn đối với sức khỏe con người. Thêm vào đó, các hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển, rừng tràm ngập úng ở ĐBSCL bị suy giảm rất nhanh chóng do quá trình khai hoang phát triển nông nghiệp, phá rừng nuôi trồng thủy sản. Đến nay, diện tích đất lâm nghiệp trong vùng chỉ còn khoảng 356.200ha; trong đó rừng tự nhiên chỉ khoảng 15% và còn lại 85% là rừng trồng tái sinh.
GS.TS Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, phân tích: “Nông nghiệp là trung tâm để giảm đói cho nhân loại và là con đường chính để thoát nghèo cho đa số dân cư. Nhưng thay đổi khí hậu đang diễn ra, thách thức về đói nghèo và an ninh lương thực sẽ gay gắt hơn. Nông nghiệp vừa là “nguyên nhân”, nhưng cũng là “nạn nhân” của sự thay đổi khí hậu không thể đảo ngược này”. Thực tiễn sau 25 năm đổi mới, sản xuất nông nghiệp đã giúp cả nước vượt qua các cuộc khủng hoảng kinh tế (1997, 2008, 2009 và 2010), nhưng sản xuất nông nghiệp lại đang bộc lộ nhiều bất cập. GS.TS Bùi Chí Bửu cho rằng, trong thập niên 1990, hầu hết các vấn đề về nông nghiệp đều được giải quyết thỏa đáng: tăng năng suất, kiểm soát dịch bệnh, phân bón được cung cấp đầy đủ để bồi dưỡng đất. Nhưng trong thập niên đầu của thế kỷ 21, quá nhiều thách thức đặt ra cho sản xuất nông nghiệp: dịch bệnh trên lúa như rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá diễn biến phức tạp, chi phí sản xuất nông nghiệp tăng.
Xuất phát điểm thấp, với sức ép đô thị hóa, các đô thị ở ĐBSCL có trên 3,82 triệu dân sinh sống, chiếm khoảng 21,6% tổng dân số toàn vùng. Tổng lượng rác thải sinh hoạt trong khu vực đô thị và cụm dân cư ở ĐBSCL khoảng 780.435 tấn/năm, lượng nước thải sinh hoạt trên 146,5 triệu m3/năm, hầu hết nguồn thải ô nhiễm này chưa xử lý triệt để, thoát vào hệ thống sông rạch trong khu vực, gây ra áp lực ô nhiễm sông, rạch, tác động xấu đến sức khỏe của người dân. Thêm vào đó, việc mời gọi đầu tư, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương đã làm gia tăng ô nhiễm môi trường trong các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN). Toàn vùng có đến 57% KCN và 85% CCN chưa có xử lý nước thải tập trung, hệ thống xử lý nước thải chưa đạt yêu cầu... Tổng lượng chất thải rắn công nghiệp 222.032 tấn/năm, chất thải rắn công nghiệp nguy hại 2.000-3.000 tấn/năm, nước thải công nghiệp là 47,2 triệu m3/năm... phần lớn chưa được xử lý đạt chuẩn cho phép.
Hệ lụy từ đầu tư thiếu đồng bộ
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng vốn đầu tư phát triển cho vùng ĐBSCL từ ngân sách nhà nước giai đoạn 2006- 2010 chỉ trên 90.793 tỉ đồng, nguồn vốn trái phiếu Chính phủ 19.069 tỉ đồng (chiếm 18,73% vốn trái phiếu Chính phủ cả nước); vốn ODA đạt khoảng 1.899,8 triệu USD (vốn vay 1.700 triệu USD), vốn viện trợ không hoàn lại 99 triệu USD. Nguồn lực đầu tư từ ngân sách (Trung ương và địa phương) còn nhỏ bé so với nhu cầu phát triển của vùng, dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún.
GS.TS Bùi Chí Bửu cho biết, đầu tư cho khoa học nông nghiệp còn thấp, trung bình 30 triệu USD/năm, phát triển nông nghiệp được ghi nhận là nhờ đầu tư vốn chiếm 53%, đầu tư lao động chiếm 19%, nhưng đầu tư khoa học chỉ chiếm 28% thay vì 40% như các nước khác. Giống chống chịu phèn, mặn lai tạo thành công nhưng rất chậm vì thiếu sự hợp tác giữa các nhà khoa học thuộc những chuyên ngành khác nhau. Thêm vào đó, công tác quy hoạch hệ thống thủy lợi ĐBSCL chưa tính đúng, tính đủ để bảo đảm trong sản xuất bền vững. Hàng năm, lũ lụt đầu nguồn đã làm ngập 1,9 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp, xâm nhập mặn trên 1,4 triệu ha vùng ven biển, thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt khoảng 2,1 triệu ha ở những vùng xa sông, gần biển. Trong khi tình trạng xói lở bờ sông, ô nhiễm nguồn nước mặt, mực nước ngầm sụt giảm nghiêm trọng...
Đến nay, toàn vùng có 335 hệ thống công trình thủy lợi vừa và lớn, trong đó có 12 công trình phục vụ trên 2.000ha đất sản xuất nông nghiệp. Cùng với hệ thống công trình thủy lợi, các tỉnh trong vùng còn xây dựng trên 754km đê; trong đó 557km đê biển, còn lại là đê sông, góp phần kiểm soát lũ, ngăn mặn cho vùng. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, hệ thống thủy lợi vùng ĐBSCL chưa xem xét một cách đầy đủ cơ cấu sản xuất và sự kết hợp giữa thủy lợi, dân cư, nhất là phục vụ nuôi trồng thủy sản. Công tác quản lý bất cập cũng làm giảm hiệu quả, tính năng của công trình (ở Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau, Nam Măng Thít, Gò Công, Ba Lai...) và chưa tính đến sự tác động của BĐKH. Rõ nhất là mùa khô năm 2011, mặn bao bọc cả vùng Bán đảo Cà Mau, mùa lũ làm ngập sâu vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và ngập trên diện rộng ở các tuyến đường nội ô thành phố, thị xã của nhiều địa phương.
Bên cạnh đó, ĐBSCL có rất nhiều điểm sạt lở đất, sụt lún, lở bờ sông và bờ biển (bờ biển Bạc Liêu - Cà Mau) làm mất đất, thiệt hại kinh tế, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, tuyến đê hành lang ven biển của khu vực ĐBSCL từ TP Hồ Chí Minh đến mũi Cà Mau có 243,6km đê biển chưa đáp ứng yêu cầu thiết kế, 238 mặt đê chưa được cứng hóa, đa số tuyến đê chưa được khép kín, hầu hết các cống bị hư hỏng trầm trọng. Đê biển phía Tây, từ mũi Cà Mau đến tỉnh Kiên Giang có 260km mặt đê chưa được cứng hóa, 10km không có rừng phòng hộ, có thể bị vỡ do tác động của sóng biển, 162km đê chưa có cống. Vấn đề đê biển, đê ven sông chưa hoàn thiện và chưa lường hết các tác động của BĐKH có thể gây áp lực rất lớn đến sự phát triển ở ĐBSCL.
Kỳ 2: Lo ngại về sinh kế của người dân