20/06/2009 - 09:58

Đào tạo nguồn nhân lực ở Đồng bằng sông Cửu Long

Cung - cầu chưa gặp nhau, vì sao?

Học nghề tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Kiên Giang.
Ảnh: THÀNH NHÂN

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất giàu tiềm năng về nông- thủy sản nhưng chưa được phát huy một cách đúng mức. Một trong những trở lực lớn nhất là chất lượng nguồn nhân lực kém. Các chuyên gia, nhà khoa học cho rằng, để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực vùng ĐBSCL cần phải gắn đào tạo sát với nhu cầu thực tiễn và thị trường lao động, đồng thời gắn với xóa đói giảm nghèo. Đó là vấn đề được đặt ra tại hội nghị sơ kết 3 năm (2006-2008) thực hiện Quyết định 20/2006 QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng ĐBSCL vừa tổ chức ở An Giang.

Thiếu nhân lực chất lượng cao

Báo cáo đánh giá của các bộ, ngành Trung ương, địa phương cho rằng, số lượng lao động qua đào tạo tăng, cơ sở vật chất trường lớp từng bước nâng cấp, nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu mới. Toàn vùng ĐBSCL có khoảng 85.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, thu hút gần 300.000 lao động làm việc, nhưng phần lớn là lao động phổ thông. Còn tỷ lệ sinh viên đại học chỉ đạt bình quân 85 sinh viên/1 vạn dân (theo Quyết định 20 là 150 sinh viên/1 vạn dân). Toàn vùng hiện có khoảng 3.655 giảng viên đại học, cao đẳng nhưng trình độ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ chỉ chiếm 4,4%, thạc sĩ 29,4%... Bên cạnh đó, khoảng 2.634 giáo viên dạy nghề nhưng chỉ 6% có trình độ sau đại học, 61% đại học và cao đẳng.

Ông Nguyễn Thành Tài, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Hồ Chí Minh, chia sẻ: “Tiềm năng và thế mạnh vùng ĐBSCL rất lớn về nông- thủy sản, nhưng chưa được phát huy một cách đúng mức và vẫn còn ở dạng tiềm năng. Một trong những trở ngại lớn nhất là nguồn nhân lực. Đầu tư giáo dục phổ thông của vùng chưa cao, sinh viên tốt nghiệp đại học chỉ chiếm 4,1% tổng dân số vùng... Do đó, phải huy động sức mạnh của toàn xã hội cùng với sự hỗ trợ của Trung ương và nỗ lực từng địa phương để đầu tư, cải thiện chất lượng giáo dục dựa trên liên kết nhằm đẩy mạnh xã hội hóa cho sự nghiệp giáo dục. Cải thiện chất lượng giáo dục- đào tạo phải song hành với xóa đói, giảm nghèo để thu hút học sinh vào học các trường nghề để có sự chuyển đổi cơ cấu nghề một cách hợp lý”. Đến cuối năm 2008, lao động qua đào tạo toàn vùng mới đạt 20,85% (cả nước là 25%) và có sự chênh lệch khá lớn giữa các địa phương như: TP Cần Thơ 35,2% trong khi Bến Tre 11,4%, Hậu Giang 13,1%, Kiên Giang 15,4%... Thêm vào đó, nông dân trong vùng có kiến thức sản xuất chủ yếu qua kinh nghiệm, đây cũng là nguyên nhân làm cho giá trị gia tăng trên sản phẩm hàng hóa của vùng thấp.

Mặt khác, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo nghề chưa thu hút được sự quan tâm của học sinh. Toàn vùng hiện có 312 cơ sở dạy nghề (cơ sở tư thục chiếm gần 40%); trong đó, 5 trường cao đẳng, 24 trường trung cấp và 114 trung tâm dạy nghề. Năm 2008, qui mô tuyển sinh dạy nghề của vùng tăng gần 26% so với năm 2007 với 242.193 học viên. Qui mô dạy nghề trình độ cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp cả vùng chỉ chiếm 10,3% tổng số học viên học nghề (cả nước là 18%). Ông Vương Bình Thạnh, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh An Giang, cho biết: “Hằng năm An Giang có khoảng 30.000 người bước vào độ tuổi lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chung của tỉnh là 25,9%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề 16,4%. Công tác đào tạo chưa gắn với nhu cầu thực tế, cơ sở trường lớp thiếu trang thiết bị. Cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, đào tạo nghề ngắn hạn chiếm 90%, hạn chế trong xã hội hóa đào tạo”. Không riêng gì An Giang, mà hầu hết các địa phương trong vùng đều vướng phải thực trạng này.

Toàn vùng ĐBSCL có đến 81% dân số thu nhập từ nông nghiệp. ĐBSCL đã bước vào thời kỳ mới, nếu so sánh trong bối cảnh hiện tại, thì 81% dân số lao động nông nghiệp là nông dân mới trong thời kỳ mới. Do đó, đào tạo nhân lực cho vùng phải có chiến lược tổng thể toàn vùng, chứ không riêng lẻ từng tỉnh, thành và phải lồng ghép vào chiến lược quốc gia.

Cần chiến lược tổng thể

Với đặc thù vùng sông nước và giàu tiềm năng về nông- thủy sản, tập quán sinh hoạt của người dân trong vùng vẫn còn tư tưởng “ly nông bất ly hương”. Chất lượng nguồn nhân lực từ lao động phổ thông đến lao động bậc cao đều chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của vùng trong thời kỳ mới. Từ đó, giá trị gia tăng trong sản phẩm chưa cao. Thêm vào đó, đa phần doanh nghiệp ở ĐBSCL là doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc hoạch định chiến lược kinh doanh đã khó, việc xác định nhu cầu lao động cho đơn vị qua từng thời gian tương ứng với các vị trí càng khó hơn. Các chuyên gia cho rằng, phải có cách tiếp cận phù hợp với từng đối tượng nông dân, doanh nghiệp để có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực sát với thực tiễn, nhất là ở vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre Nguyễn Quốc Bảo bức xúc: “Ngân sách đầu tư cho dạy nghề thấp so với tỷ trọng giáo dục - đào tạo. Các huyện vùng sâu, vùng xa học sinh đi học nghề rất khó khăn. Các trung tâm dạy nghề ở huyện khó khăn trong việc tự nuôi sống mình, do kinh phí hạn hẹp, nên khó mà mở rộng qui mô đào tạo. Nếu không quan tâm đến công tác dạy nghề, những năm tới ĐBSCL khó bắt kịp với sự phát triển của các vùng khác. Học sinh học nghề là lực lượng trẻ, nên cần phải quan tâm đầu tư đúng mức”. Còn bà Trần Thị Mỹ Dung, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh Hậu Giang cho rằng, cần nghiên cứu phương án miễn học phí cho con em hộ cận nghèo để nâng tỷ lệ học sinh học nghề và tạo cơ hội cho học sinh tốt nghiệp trường trung cấp nghề có cơ hội liên thông lên cao đẳng, đại học.

Các nhà khoa học, chuyên gia cho rằng nâng cao chất lượng nhân lực cho vùng một mặt dựa vào tập quán sinh hoạt, đặc thù kinh tế của vùng để có chiến lược đào tạo phù hợp. Phải xem phổ cập giáo dục là hàng đầu rồi mới tính đến chuyện dạy nghề, bởi hiện toàn vùng có 36% lao động chưa học hết bậc tiểu học. Thông tin từ Bộ GD-ĐT, Bộ LĐ-TB&XH, Tổng Cục dạy nghề, giai đoạn 2011-2020, đào tạo nghề cho lao động nông thôn sẽ được chú trọng nâng chất và đào tạo theo hướng nhu cầu thị trường. Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Nguyễn Thanh Hòa, cho biết: “Phải thay đổi nhận thức để thanh niên đi học nghề. Lâu nay, thanh niên chỉ thích học đại học hơn học nghề, đây là tình trạng mà nhiều nước đang phát triển đều vướng. Do vậy, các tỉnh trong vùng cần chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo dựa trên nhu cầu của người học và nhu cầu thị trường. Chất lượng đào tạo, nhân lực của vùng ĐBSCL thấp so với mức bình quân chung của cả nước. Muốn có chất lượng phải có số lượng và cần có thời gian để thay đổi vấn đề này, đồng thời các địa phương trong vùng cần ngồi lại với nhau để tính toán thứ tự ưu tiên đầu tư”.

Theo Quyết định 20 đến năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn vùng đạt 23%. Năm 2009, ngân sách Trung ương hỗ trợ thông qua dự án “Tăng cường năng lực dạy nghề” giai đoạn 2006-2009 trên 180 tỉ đồng (chiếm 24% tổng kinh phí toàn dự án). Hiện nay, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trường nghề có việc làm đạt 60-70%, điều này cho thấy nhu cầu thực tế của doanh nghiệp khá cao. Một số địa phương trong vùng ĐBSCL đã lên kế hoạch đẩy mạnh xã hội hóa công tác đào tạo nghề để huy động nguồn lực một cách hiệu quả nhất. Bởi việc xã hội hóa hiện chỉ tập trung ở khu vực đô thị, nếu việc huy động nguồn lực tốt, xã hội hóa hiệu quả sẽ góp phần đáng kể trong đào tạo lao động và xây dựng nông thôn mới vùng ĐBSCL.

GIA BẢO - THÀNH NGUYỄN

Liên kết trong giáo dục và đào tạo nghề vùng ĐBSCL trong thời kỳ hội nhập

(CT)- Đó là ý kiến của đa số đại biểu tại Diễn đàn hợp tác phát triển nguồn nhân lực Đồng bằng sông Cửu Long tổ chức sáng ngày 19-6-2009 tại An Giang, trong khuôn khổ Diễn đàn hợp tác kinh tế ĐBCSL (MDEC). Diễn đàn với sự tham gia của lãnh đạo các Bộ Công thương, Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội cùng lãnh đạo các tỉnh, thành trong vùng và các Tổng lãnh sự Nga, Úc, Singapore… Mục tiêu của diễn đàn nhằm lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp về các giải pháp phát triển lực lượng công nhân, nông dân có tay nghề và quản trị doanh nghiệp cho vùng.

Chiều cùng ngày, trong hội nghị bàn về giải pháp phát triển nguồn nhân lực, lãnh đạo các tỉnh, thành vùng ĐBSCL đã đi đến thống nhất chương trình hành động và ra tuyên bố chung, đồng thời kiến nghị về Trung ương. Trong đó, kiến nghị Chính phủ có chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong 10 năm tới và định hướng 20 năm khi kết thúc Quyết định 20/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng. Tăng ngân sách đầu tư cho vùng tương đương với tỷ lệ dân số của vùng (22% so với cả nước); có chiến lược đào tạo đội ngũ giáo viên về chất lẫn lượng. Thành lập trường đại học mang tầm quốc tế tại vùng, miễn học phí cho con em hộ cận nghèo khi học nghề, ban hành cơ chế huy động vốn đặc thù. Đào tạo nghề theo hướng nghiệp, phân luồng, tuyến học sinh phù hợp thực tế. Khuyến khích các thành phần kinh tế, doanh nghiệp, nông dân cùng tham gia công tác đào tạo dựa trên thông tin thu thập được từ nhu cầu thị trường lao động. Nâng cao vai trò quản lý, giám sát công tác đào tạo và sử dụng nguồn kinh phí…

GIA - NGUYỄN


Chia sẻ bài viết