21/08/2026 - 12:42

Cần Thơ đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ trong cung cấp dịch vụ công 

(CTO) - UBND TP Cần Thơ vừa ban hành Báo cáo số 337/BC-UBND gửi Ủy ban Trung ương MTTQVN về kết quả thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ trong giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trên địa bàn thành phố.

Người dân được hướng dẫn sử dụng Kiosk tra cứu và nộp hồ sơ trực tuyến tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Sóc Trăng.

Theo UBND thành phố, công tác chuyển đổi số của thành phố tiếp tục được triển khai đồng bộ, với hạ tầng viễn thông, hạ tầng số từng bước hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Đến quý II-2026, thành phố có gần 3,7 triệu thuê bao điện thoại, hơn 4 triệu thuê bao truy nhập Internet, trong đó tỷ lệ hộ gia đình sử dụng băng rộng cố định đạt 85,73%; mạng 4G phủ sóng 100% dân số, 5G phủ trên 68,2% dân số.

Trung tâm dữ liệu thành phố được vận hành theo cơ chế chính - dự phòng, bảo đảm an toàn thông tin cấp độ 3. Các nền tảng số dùng chung tiếp tục phát huy hiệu quả, nổi bật là hệ thống quản lý văn bản, điều hành được triển khai thống nhất đến các cơ quan, đơn vị và 103 xã, phường, với hơn 16.300 tài khoản; tỷ lệ xử lý văn bản, hồ sơ công việc toàn trình trên môi trường điện tử đạt 100%.

Thành phố hiện duy trì 91 hệ thống thông tin chuyên ngành, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu. Đối với các nền tảng phục vụ người dân và doanh nghiệp, thành phố triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính theo mô hình tập trung đối với 12 sở, ngành. Cổng thông tin điện tử, Tổng đài 1022 và ứng dụng Can Tho Smart được duy trì ổn định, mở rộng khả năng tương tác và cung cấp dịch vụ số; hình thành kênh cung cấp thông tin, tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị từ người dân, doanh nghiệp một cách minh bạch, nhanh chóng và hiệu quả.

Về tình hình giải quyết thủ tục hành chính, tỷ lệ thủ tục toàn trình cấp thành phố đạt 78,66% và một phần 21,34%. Đối với cấp xã, tỷ lệ thủ tục hành chính toàn trình đạt 71,01% và một phần là 28,99%.

Người dân thực hiện thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Thạnh Quới.

UBND thành phố đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thông thoáng, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu khoa học phát triển, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Xem xét nghiên cứu, triển khai cơ chế thử nghiệm (sandbox) đối với các công nghệ số tại địa phương, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, tổ chức thử nghiệm, đánh giá, hoàn thiện mô hình, giải pháp công nghệ trước khi triển khai ứng dụng, thương mại hóa. Kiến nghị bộ, ngành Trung ương nghiên cứu, nâng cấp và hoàn thiện các chức năng thống kê báo cáo trên hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung của bộ chuyên ngành; đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Bộ Công an rà soát, nâng cấp và hoàn thiện các chức năng của hệ thống quản lý thanh toán tập trung, đặc biệt là cơ chế phân quyền tài khoản theo hướng cho phép 1 tài khoản nghiệp vụ được tra cứu, theo dõi và đối soát đầy đủ các giao dịch thanh toán trực tuyến thuộc phạm vi quản lý. Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ sớm có giải pháp tháo gỡ nút thắt về điều kiện hưởng mức hỗ trợ trong lĩnh vực chuyển đổi số theo Nghị định số 179/2025/NĐ-CP ngày 1-7-2025 của Chính phủ về mức hỗ trợ, phụ cấp thu hút đối với người làm công tác chuyên trách về chuyển đổi số, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng nhằm thu hút nguồn nhân lực chuyển đổi số tại địa phương.

TP Cần Thơ hiện có 97 tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ, với 9.470 người. Trong đó, có 1.566 tiến sĩ (chiếm 16,5%), 3.001 thạc sĩ (chiếm 31,7%), 3.222 đại học (chiếm 34%) và 1.029 cao đẳng (chiếm 10,9%). Số tiến sĩ được phong hàm giáo sư và phó giáo sư khoảng 306 người (chiếm 3,23%), tập trung chủ yếu ở lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học nông nghiệp, khoa học y dược và khoa học xã hội. Nhân lực khoa học và công nghệ tập trung chủ yếu ở cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng chiếm 48,6%; kế đến là cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp khác chiếm 44,9%; tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ chiếm 4,07%; thấp nhất là tổ chức nghiên cứu và phát triển khoảng 2,49%.

Tin, ảnh: Q. THÁI

Chia sẻ bài viết