Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 21-8, Quốc hội thảo luận ở hội trường. Bà Triệu Thị Ngọc Diễm, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, có góp ý quan trọng về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

Đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm góp ý định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.
Theo đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm, những định hướng và nội dung được thể hiện trong dự thảo Luật đất đai lần này đã thể hiện nhiều điểm mới, với hệ thống 7 chính sách quan trọng nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai đối với loại tài sản đặc biệt “thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Qua nghiên cứu các văn bản được trình liên quan dự thảo luật Đất đai sửa đổi, đại biểu góp ý một số vấn đề cụ thể:
Tại Điều 151 - Nội dung “trách nhiệm của Nhà nước về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số”.
Về chủ thể còn đan xen giữa trách nhiệm của Nhà nước; chính sách đối với người dân tộc thiểu số; quyền, nghĩa vụ và hạn chế quyền của cá nhân người dân tộc thiểu số. Ví dụ, khoản 2, điểm c quy định thẩm quyền của Nhà nước về giao đất là hoàn toàn phù hợp với chức năng của chủ thể Nhà nước. Tuy nhiên, các điểm a, b, d khoản này lại quy định về việc được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, đây là chính sách áp dụng cho chủ thể đồng bào dân tộc thiểu số, không phải Nhà nước.
Do đó, kiến nghị xem xét lại tính thống nhất về chủ thể tại Điều 15, đồng thời cân nhắc đổi tên từ: “Trách nhiệm của Nhà nước về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số” thành “Chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số”, vì nội dung được thể hiện trong điều không chỉ quy định trách nhiệm mà còn bao gồm đối tượng, điều kiện, hình thức hỗ trợ, nguồn đất, nguồn kinh phí và phân cấp thực hiện. Trường hợp giữ tên như dự thảo, cần tách rõ thành các khoản quy định nhiệm vụ riêng dành cho từng chủ thể (chủ thể Nhà nước gắn với trách nhiệm; chủ thể dân tộc thiểu số gắn với điều kiện, hình thức hỗ trợ, tiêu chí hạn chế và đảm bảo sau hỗ trợ).
Về đối tượng, tại khoản 3, điều 15, kiến nghị cần làm rõ trường hợp hộ nghèo/cận nghèo (được rà soát vào cuối năm, sẽ được thay đổi qua từng năm) thì xác định tại thời điểm nào để tạo sự công bằng giữa các đối tượng và đồng bộ với các chính sách khác.
Tại khoản 4, khoản 5, Điều 42, Điều 48 và Điều 49 - Về tái định cư và yêu cầu “tái thiết cuộc sống”.
Đại biểu đánh giá cao quy định khu tái định cư phải có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ tại Điều 42, Điều 48 và Điều 49. Tuy nhiên, dự án Luật đặt ra một yêu cầu cao hơn rất nhiều về chính sách chuyển mạnh từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất”, thông qua việc xem xét chỗ ở, hạ tầng, sinh kế, việc làm, thu nhập và mức độ hài lòng của người dân. Đây không chỉ là một khẩu hiệu chính sách mà cần phải được thể hiện thành nghĩa vụ pháp lý cụ thể trong Luật.
Khu tái định cư đạt tiêu chuẩn về đường, điện, nước chưa đồng nghĩa với việc đời sống của người dân đã được phục hồi. Một hộ dân có thể có nhà ở mới tốt hơn nhưng mất địa điểm kinh doanh; người sản xuất nông nghiệp có thể có nơi ở mới nhưng không còn đất hoặc phương tiện sinh kế; khoảng cách đến trường học, nơi làm việc, chợ và mạng lưới xã hội có thể thay đổi đáng kể. Vì vậy, mục tiêu cuối cùng của tái định cư không phải là giao xong một nền đất hoặc căn nhà mà là tạo điều kiện để người dân ổn định được cuộc sống sau thu hồi đất.
Do đó, kiến nghị bổ sung vào Điều 42 hoặc Điều 48 một khoản theo hướng: “Cơ quan tổ chức thực hiện tái định cư có trách nhiệm theo dõi, đánh giá điều kiện sống của người được tái định cư sau khi bố trí tái định cư, bao gồm khả năng tiếp cận hạ tầng thiết yếu, việc làm, sinh kế và thu nhập; kịp thời thực hiện hoặc đề xuất biện pháp hỗ trợ bổ sung đối với trường hợp chưa bảo đảm điều kiện ổn định cuộc sống”. Đồng thời, đối với dự án có phạm vi từ 2 đơn vị hành chính cấp xã trở lên hoặc phải bố trí tái định cư ngoài địa bàn xã nơi có đất thu hồi, cần quy định rõ UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm điều phối, tránh đẩy toàn bộ trách nhiệm sang từng xã riêng lẻ.
Tại khoản 2, Điều 72; Điều 75 và Điều 76 của Dự thảo - Về cơ chế giá đất tính bồi thường - đây là nội dung có tác động rất lớn đến sự đồng thuận của người dân.
Đại biểu thống nhất với định hướng đổi mới phương pháp định giá theo hướng đơn giản, minh bạch, giảm phụ thuộc vào việc thuê tư vấn xác định giá đất cụ thể cho từng dự án. Tuy nhiên, từ thực tiễn các địa phương, đây là một trong những nội dung cần được quy định chặt chẽ nhất trước khi Luật được thông qua. Vấn đề cốt lõi không phải là nên sử dụng “giá đất cụ thể” hay “bảng giá đất và hệ số K”, mà là bảng giá và hệ số K có phản ánh được hợp lý giá trị đất tại thời điểm thu hồi hay không. Ví dụ: Trong 1 dự án cải tạo, mở rộng các nút giao trọng điểm, tại vị trí thuộc các nút giao khác nhau, có sự chênh lệch khá nhiều giữa bảng giá và hệ số K với mức giá theo phương án tư vấn trong cùng 1m².
Nếu cơ chế mới đơn giản về thủ tục nhưng tạo khoảng cách lớn giữa số tiền bồi thường và giá trị thực tế của quyền sử dụng đất thì khó tạo được đồng thuận, dễ phát sinh kiến nghị, khiếu nại và chậm bàn giao mặt bằng. Ngay Báo cáo rà soát của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng nhận định dữ liệu đầu vào định giá đất chưa đầy đủ, khoảng cách giữa giá thị trường và bảng giá đất còn lớn tại nhiều địa phương. Do đó, đại biểu kiến nghị:
Một là, bổ sung vào Điều 76 cơ chế điều chỉnh linh hoạt, theo hướng: hệ số điều chỉnh giá đất để tính bồi thường phải đủ chi tiết theo khu vực, vị trí, thời điểm; kịp thời điều chỉnh khi giá đất biến động hoặc bảng giá, hệ số không còn phù hợp; cho phép xác định hệ số bổ sung đối với khu vực, dự án cụ thể trên cơ sở dữ liệu khách quan, công khai; công khai cơ sở xác định hệ số để người có đất thu hồi giám sát; bảo đảm nhất quán về mức bồi thường giữa các vị trí tương đồng trong cùng dự án, hạn chế chênh lệch bất hợp lý do khác thời điểm áp dụng.
Hai là, làm rõ “tỷ lệ bồi thường” tại điểm e, khoản 2, Điều 72. Dự thảo chưa quy định rõ nguyên tắc, phương pháp xác lập, thẩm quyền quyết định và mối quan hệ giữa tỷ lệ này với bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất. Điều 76 mới quy định HĐND cấp tỉnh quyết định bảng giá đất và hệ số điều chỉnh, chưa xác định chủ thể quyết định tỷ lệ bồi thường. Vì đây là biến số trực tiếp ảnh hưởng mức bồi thường, cần quy định rõ để bảo đảm thống nhất. Đề nghị Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, phương pháp xác định tỷ lệ; HĐND cấp tỉnh quyết định tỷ lệ cụ thể theo từng loại đất trong phạm vi được giao, hoặc Chính phủ quy định thống nhất trên toàn quốc. Việc xác định tỷ lệ phải công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích và không làm mất ý nghĩa của bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất.
PV