Nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đang thay đổi cách canh tác để thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, để người dân duy trì phương thức sản xuất mới, chính sách hỗ trợ cần gắn yêu cầu kỹ thuật với bảo đảm thu nhập, cải thiện hạ tầng và chia sẻ rủi ro.
.webp)
Bảo đảm thu nhập là điều kiện để người trồng lúa gắn bó với phương thức canh tác mới.
Thay đổi từ lợi ích của người làm ruộng
Ông Hồ Phước Minh, người trồng lúa 3 vụ tại vùng đệm Vườn quốc gia Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp, từng lo rằng thay đổi cách làm sẽ khiến năng suất giảm và ảnh hưởng đến thu nhập cả nhà. Nhiều năm làm ruộng, ông quen đốt đồng sau thu hoạch để dọn đất, phun thuốc bảo vệ thực vật định kỳ và bón phân hóa học để giữ màu xanh cho lá lúa.
Khi tham gia dự án STAR - FARM, ông Minh bắt đầu tiếp cận kỹ thuật giảm thuốc hóa học và sử dụng thuốc sinh học. Sự hướng dẫn cụ thể giúp ông hiểu thêm mối liên hệ giữa cách chăm sóc cây lúa với chất lượng đất, nguồn nước và khả năng duy trì sản xuất lâu dài. Từ nỗi lo về năng suất một vụ, ông dần cân nhắc cả điều kiện canh tác cho những năm sau.
“Nhưng khi được hướng dẫn cặn kẽ kỹ thuật giảm thuốc hóa học, dùng thuốc sinh học, tôi hiểu ra rằng nếu giữ được đất màu mỡ và giữ nguồn nước trong lành thì chính nông dân mình là người hưởng lợi trước nhất. Cái gì tốt thì mình giữ lại, còn cái gì tốt hơn thì cần học hỏi để thay đổi dần. Giờ tôi không nhìn một vụ trước mắt nữa mà nghĩ chuyện lâu dài. Tôi cam kết tiếp tục làm lúa sinh thái để giữ đất, giữ nước cho con cháu mai sau”, ông Minh chia sẻ.
Câu chuyện của ông Minh cho thấy việc thay đổi tập quán cần bắt đầu từ những vấn đề người sản xuất quan tâm. Khi được giải thích và hướng dẫn thực hành, nông dân có cơ sở cân nhắc lợi ích của cách làm mới thay vì chỉ tiếp nhận một yêu cầu giảm sử dụng vật tư. Bảo vệ đất và nước cũng trở nên gần gũi hơn khi gắn trực tiếp với điều kiện làm ruộng của gia đình.
.webp)
Mô hình luân canh lúa - tôm giúp nông dân thích ứng với điều kiện nguồn nước và đa dạng nguồn thu nhập.
Tại Hợp tác xã nông nghiệp Nam Quý thuộc xã Đông Thái, tỉnh An Giang, quá trình thay đổi sản xuất bắt nguồn từ tình trạng mặn kéo dài. Ông Phạm Chí Thương, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc hợp tác xã, đã cùng 97 thành viên phát triển mô hình luân canh tôm - cua - lúa hữu cơ trên diện tích 297 ha.
Theo ông Thương, trước năm 1990, vùng đất này có nước ngọt quanh năm và người dân sản xuất một vụ lúa kết hợp một vụ cá. Điều kiện nguồn nước sau đó thay đổi, đến sau năm 2020 thời gian mặn kéo dài tới 8 tháng khiến việc duy trì hai vụ lúa không còn phù hợp. Hợp tác xã chuyển sang bố trí nuôi thủy sản trong thời gian nước mặn và làm lúa khi có nước ngọt.
“Đến tháng 9, mưa trút xuống, chúng tôi thau rửa mặn trên nền đất nuôi tôm để cấy vụ lúa hữu cơ kéo dài đến tháng 12”, ông Thương cho biết. Cách bố trí mùa vụ dựa vào điều kiện nguồn nước giúp hợp tác xã duy trì sản xuất lúa hữu cơ suốt 9 năm qua, với sản phẩm xuất khẩu sang Đức, Nhật Bản và Hoa Kỳ.
Theo ông Thương, lợi nhuận từ tôm và cua đạt 50 - 70 triệu đồng/ha, cộng thêm 20 - 40 triệu đồng/ha từ vụ lúa hữu cơ. Tuy nhiên, hiệu quả sản xuất chưa giải quyết hết những khó khăn khi hợp tác xã vẫn thiếu hạ tầng phục vụ vận chuyển nông sản và chủ động ứng phó với thời tiết.
.webp)
“Đường giao thông hiện mới rộng 2,5m nên xe tải lớn không thể vào tận ruộng bốc dỡ nông sản, chúng tôi đề nghị được đầu tư nâng cấp mặt lộ lên 6m. Điện sinh hoạt một pha hiện quá yếu, khi gặp mưa bão xả lũ không đủ tải cho các trạm bơm tát chống ngập úng, rất cần được kéo đường điện 3 pha”, ông Thương kiến nghị.
Hợp tác xã cũng chưa có trạm quan trắc tự động để theo dõi chất lượng nước và nguy cơ nhiễm thuốc bảo vệ thực vật từ những cánh đồng xung quanh. Trong khi lúa hữu cơ đã có liên kết bao tiêu, tôm và cua vẫn chủ yếu bán nhỏ lẻ cho thương lái với giá biến động, nên hợp tác xã mong muốn có doanh nghiệp tham gia thu mua dài hạn.
Kinh nghiệm tại Nam Quý cho thấy thay đổi phương thức sản xuất cần đi cùng điều kiện duy trì mô hình. Nông dân có thể chủ động điều chỉnh mùa vụ nhưng việc nâng cấp đường, điện và hệ thống theo dõi nguồn nước cần thêm nguồn lực hỗ trợ. Đây cũng là những yêu cầu thực tế cần tính đến khi mở rộng các phương thức canh tác bền vững.
Chia sẻ rủi ro và mở rộng cơ hội tham gia
Bên cạnh hạ tầng và thị trường, quá trình chuyển đổi còn cần bảo đảm người trực tiếp sản xuất có cơ hội tiếp cận kiến thức và tham gia quyết định. Nếu hoạt động hướng dẫn kỹ thuật chưa đến đầy đủ các nhóm lao động, việc áp dụng quy trình mới sẽ khó phát huy hiệu quả trong từng hộ gia đình và hợp tác xã.
Ông Nguyễn Hùng Cường, đại diện tổ chức Oxfam tại Việt Nam, dẫn nghiên cứu từ dự án Go - Rice cho biết phụ nữ chiếm 47% lực lượng lao động nông nghiệp nhưng tỷ lệ tham gia tập huấn kỹ thuật hoặc các cuộc họp ra quyết định tại hợp tác xã vẫn dưới 30%. Nghiên cứu cũng ghi nhận nam giới nắm giữ 87% vị trí giám đốc, phó giám đốc hợp tác xã và 64% nam giới cho rằng phụ nữ không phù hợp làm lãnh đạo.
.webp)
Hạ tầng đồng ruộng và liên kết tiêu thụ cần theo kịp yêu cầu chuyển đổi sản xuất.
Những số liệu này đặt ra yêu cầu mở rộng cơ hội tham gia cho phụ nữ, những người đảm nhận nhiều công việc trong sản xuất và quản lý chi tiêu gia đình. Việc hướng dẫn kỹ thuật cần gắn với tạo điều kiện để họ đóng góp ý kiến về cách tổ chức sản xuất, thay vì chỉ tham gia thực hiện các công việc trên đồng ruộng.
Ông Cường đồng thời lưu ý tình trạng lao động rời Đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 200.000 - 250.000 người mỗi năm, trong đó hơn 70% là thanh niên. Từ thực tế này, ông đề xuất phát huy mạng lưới Hội Phụ nữ cơ sở và đào tạo thanh niên nông thôn thành các tổ dịch vụ công nghệ, hỗ trợ vận hành máy bay không người lái, số hóa nhật ký đồng ruộng và kiểm soát hệ thống đo đạc phát thải.
Cách tổ chức dịch vụ như vậy hướng đến hỗ trợ nông dân thực hiện những yêu cầu mới trong canh tác. Khi sản xuất lúa phát thải thấp đòi hỏi theo dõi và ghi chép quá trình thực hiện, người dân cần được hướng dẫn phù hợp với khả năng sử dụng công nghệ để duy trì công việc qua từng vụ.
Bà Kate Wallace, Tổng Lãnh sự Australia tại TP Hồ Chí Minh, nhấn mạnh sự cần thiết của phối hợp giữa các bên. “Không một chính phủ hay tổ chức đơn lẻ nào có thể tự mình đạt được những mục tiêu to lớn trong việc chuyển đổi nông nghiệp bền vững. Mô hình hợp tác mà Australia mong muốn thúc đẩy là sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà nước, khối doanh nghiệp, các viện nghiên cứu và người nông dân để kiến tạo những giá trị thực tế nhìn thấy được”, bà Kate Wallace cho biết.
Theo bà Kate Wallace, Australia cam kết tiếp tục đồng hành cùng nông dân Việt Nam xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo có khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu. Còn ông Vinod Ahuja, Trưởng đại diện Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) tại Việt Nam, cũng nhấn mạnh cải thiện đời sống người sản xuất là trọng tâm của quá trình chuyển đổi hệ thống lương thực.
Về phía cơ quan quản lý, ông Nguyễn Hoàng Hiệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đặt yêu cầu bảo đảm quyền lợi của nông dân trong quá trình chuyển đổi. “Nông dân không thể một mình gánh vác các chi phí chuyển đổi, đặc biệt là chi phí giảm phát thải khí nhà kính. Chúng ta không thể kêu gọi nông dân làm lúa phát thải thấp nhưng quyền lợi của họ không được bảo đảm, thậm chí thu nhập lại sụt giảm. Quản trị rủi ro thiên tai và biến động thị trường là trách nhiệm của nhà nước, tuyệt đối không được đẩy rủi ro về phía người nông dân”, ông Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết.
.webp)
Ông Nguyễn Hoàng Hiệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quyền lợi của nông dân trong quá trình chuyển đổi sang sản xuất lúa phát thải thấp.
Thứ trưởng yêu cầu chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn lấy nông dân làm trung tâm phục vụ. Khi Chính phủ ký quyết định điều chỉnh đề án mở rộng diện tích, các đơn vị trực thuộc Bộ cần phối hợp với địa phương rà soát vùng nguyên liệu, hoàn thiện thủy nông nội đồng và hạ tầng logistics, đồng thời xác định danh mục đầu tư trọng điểm.
Từ mong muốn giữ đất, giữ nước của ông Hồ Phước Minh đến nhu cầu về điện, đường và đầu ra của Hợp tác xã Nam Quý, người sản xuất đã chỉ ra những điều kiện cụ thể để gắn bó với cách làm mới. Đáp ứng các nhu cầu ấy cũng là cách đưa mục tiêu giảm phát thải vào thực tế, để nông dân vừa duy trì thu nhập vừa có điều kiện bảo vệ nguồn lực sản xuất lâu dài.
Lưu Niệm (Báo Tin tức và Dân tộc)