02/11/2026 - 18:09

Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Luật sư (sửa đổi) 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, chiều 2-11, Quốc hội thảo luận ở hội trường. Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Luật sư (sửa đổi).

Bà Phạm Thị Minh Huệ phát biểu trong phiên thảo luận ở hội trường chiều 2-11.

Thứ nhất, về điểm i, khoản 1, Điều 6 quy định hành vi bị nghiêm cấm.

Đại biểu thống nhất với mục tiêu của quy định là đề cao trách nhiệm của luật sư đối với vụ việc đã nhận theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc theo phân công trợ giúp pháp lý, không để việc từ chối hoặc bỏ dở tùy tiện ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ. Tuy nhiên, cách diễn đạt hiện nay: “mà không có căn cứ pháp luật hoặc thuộc trường hợp bất khả kháng” chưa rõ về quan hệ giữa các căn cứ; có thể dẫn đến cách hiểu rằng chỉ cần có “căn cứ pháp luật” là đủ, nhưng chưa xác định cụ thể trường hợp nào được từ chối, thay đổi hoặc chấm dứt việc thực hiện.

Thực tiễn có thể phát sinh xung đột lợi ích, luật sư không bảo đảm sức khỏe, có căn cứ pháp luật phải từ chối hoặc có trở ngại khách quan khiến luật sư không thể tiếp tục thực hiện. Những trường hợp này không thể đồng nhất với hành vi trốn tránh trách nhiệm. Vì vậy, đề nghị quy định rõ hành vi bị nghiêm cấm là hành vi tự ý từ chối, không thực hiện hoặc đơn phương chấm dứt vụ việc mà không có lý do chính đáng và không thuộc trường hợp pháp luật cho phép. Đồng thời, quy định trách nhiệm thông báo, bàn giao hồ sơ, phối hợp bố trí người thay thế để không làm gián đoạn việc bảo vệ quyền lợi của người được trợ giúp hoặc người tham gia tố tụng.

Do đó, đại biểu đề nghị điều chỉnh điểm i, khoản 1, Điều 6 như sau:

“i) Tự ý từ chối, không thực hiện hoặc đơn phương chấm dứt việc thực hiện vụ việc đã đảm nhận theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc theo phân công của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý mà không có lý do chính đáng và không thuộc trường hợp được từ chối, thay đổi hoặc chấm dứt việc thực hiện theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp bất khả kháng.”.

Thứ hai, về miễn, giảm đào tạo nghề luật sư và tập sự hành nghề luật sư tại khoản 3, khoản 4, Điều 8.

Đại biểu đồng tình với chủ trương ghi nhận trình độ, kinh nghiệm của những người đã có thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật. Tuy nhiên, cần phân biệt kiến thức pháp luật, kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ chuyên môn với kỹ năng hành nghề luật sư. Hoạt động luật sư còn đòi hỏi kỹ năng tư vấn, đại diện, tranh tụng, bảo vệ quyền lợi khách hàng và tuân thủ nghiêm chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.

Đối với khoản 3, Điều 8, đề nghị làm rõ tiêu chí “từ 5 năm trở lên” tại điểm c là thời gian trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chuyên môn pháp luật, không chỉ căn cứ vào thời gian giữ ngạch hoặc chức danh. Đối với khoản 4, Điều 8, cũng cần xác định rõ thời gian 10 năm là thời gian giữ chức danh hay thời gian trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Việc phân định đối tượng được miễn và được giảm phải dựa trên tính chất công việc, mức độ tương đồng với hoạt động nghề luật sư và kinh nghiệm thực tiễn.

Từ những phân tích trên, đại biểu đề nghị điều chỉnh cụ thể như sau:

Khoản 3, Điều 8: "Thời gian công tác quy định tại khoản này phải là thời gian trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chuyên môn trong lĩnh vực pháp luật, phù hợp với chức danh, vị trí công tác được quy định. Người được miễn thời gian đào tạo nghề luật sư phải đáp ứng yêu cầu về kiến thức, kỹ năng chuyên môn cần thiết để hành nghề luật sư theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.".

Khoản 4, Điều 8 thành: "4. Người đã là thẩm tra viên chính ngành Tòa án, kiểm tra viên chính ngành Kiểm sát từ 10 năm trở lên và có thời gian trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chuyên môn trong lĩnh vực pháp luật được giảm 6 tháng thời gian đào tạo nghề luật sư.".

Thứ ba, về thành viên góp vốn trong Công ty Luật TNHH 2 thành viên trở lên tại điểm b, khoản 1, Điều 19.

Đại biểu ghi nhận quy định điểm mới về việc cho phép có thành viên góp vốn có thể giúp tổ chức hành nghề luật sư huy động thêm nguồn lực tài chính, công nghệ và quản trị. Tuy nhiên, dịch vụ pháp lý là hoạt động nghề nghiệp có tính đặc thù, trong đó tính độc lập, trách nhiệm cá nhân của luật sư và bí mật thông tin khách hàng là những nguyên tắc cốt lõi. Dù dự thảo đã quy định thành viên góp vốn không được điều hành chuyên môn, không can thiệp hoạt động hành nghề và không tiếp cận bí mật khách hàng, nhưng nếu chỉ quy định về chức danh, quyền hạn trên giấy tờ chưa đủ loại trừ nguy cơ chi phối trên thực tế, nhất là khi quyền phân chia lợi nhuận gắn với tỷ lệ vốn góp.

Theo đại biểu, luật cần quy định rõ luật sư thành viên phải nắm quyền quyết định đối với hoạt động chuyên môn; thành viên không phải luật sư không được chi phối việc tiếp nhận, phân công, giải quyết vụ việc, lựa chọn phương án tư vấn, bào chữa, đại diện hoặc tiếp cận thông tin khách hàng. Đồng thời, cần quy định ngay trong Luật giới hạn tỷ lệ vốn góp của thành viên không phải luật sư, cơ chế công khai chủ sở hữu, kiểm soát xung đột lợi ích và xử lý trường hợp vi phạm. Về tỷ lệ cụ thể, đề nghị cân nhắc theo một mức trần thống nhất, không nên để khoảng lựa chọn “20% đến 30%” vì có thể gây thiếu rõ ràng khi áp dụng. Việc huy động vốn phải phục vụ phát triển tổ chức hành nghề, không được làm thay đổi bản chất độc lập của nghề luật sư.

Thứ tư, về phạm vi cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân tại khoản 1, Điều 23.

Tại khoản 1, Điều 23, dự thảo giới hạn luật sư hành nghề với tư cách cá nhân chỉ cung cấp dịch vụ pháp lý cho cơ quan, tổ chức đã ký hợp đồng lao động. Quy định này chưa làm rõ trường hợp luật sư ký hợp đồng lao động với công ty mẹ hoặc doanh nghiệp đầu mối trong tập đoàn, nhưng theo phân công phải thực hiện công việc pháp lý cho công ty con, đơn vị thành viên. Nếu không quy định rõ, hoạt động hỗ trợ pháp lý nội bộ có thể bị hiểu là cung cấp dịch vụ cho một chủ thể ngoài hợp đồng lao động.

Đề nghị bổ sung theo hướng cho phép luật sư thực hiện công việc pháp lý cho doanh nghiệp, tổ chức đã ký hợp đồng lao động và các công ty con, đơn vị thành viên trong cùng tập đoàn hoặc hệ thống theo sự phân công hợp pháp của người sử dụng lao động; với điều kiện xác định rõ phạm vi, trách nhiệm, không phát sinh xung đột lợi ích và bảo đảm bí mật thông tin. Quy định này cần đi kèm cơ chế nhận diện khách hàng, kiểm tra xung đột lợi ích và xác định trách nhiệm của luật sư để không làm suy giảm quyền lợi của các pháp nhân có tư cách độc lập.

PV (lược ghi)

Chia sẻ bài viết