Để mở rộng sản xuất lúa phát thải thấp, Đồng bằng sông Cửu Long cần giải quyết đồng thời yêu cầu kỹ thuật và nguồn vốn đầu tư. Bên cạnh áp dụng công nghệ giúp nông dân giảm chi phí, kết quả giảm phát thải cũng cần được cơ quan chức năng hỗ trợ kiểm chứng để doanh nghiệp tiếp cận tài chính xanh và thị trường carbon.
.webp)
Nông dân sử dụng máy cấy để đưa mạ xuống ruộng, ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa.
Công nghệ phải giải được bài toán chi phí
Giảm lượng giống và phân bón có thể giúp nông dân tiết kiệm chi phí ngay trong một vụ lúa, nhưng duy trì cách làm mới trên diện rộng cần thêm nhiều điều kiện. Người sản xuất phải chủ động điều tiết nước, tiếp cận máy móc phù hợp và ghi chép quá trình canh tác để các đơn vị chuyên môn có cơ sở xác định lượng phát thải giảm được.
Đề xuất mở rộng phạm vi sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp lên khoảng 1,65 triệu ha tại Đồng bằng sông Cửu Long vì vậy đặt ra yêu cầu đầu tư đồng bộ. Từ hệ thống thủy nông nội đồng đến nguồn vốn cho doanh nghiệp liên kết, mỗi khâu đều ảnh hưởng đến khả năng đưa quy trình kỹ thuật vào sản xuất lâu dài.
Theo ông Bùi Bá Bổng, nguyên Chủ tịch Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA), các giải pháp canh tác giảm phát thải hiện nay kế thừa nhiều kinh nghiệm sản xuất đã có. Trong đó, kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ có quan hệ với phương pháp “nông - lộ - phơi”, giúp điều tiết nước theo từng thời điểm thay vì giữ ruộng ngập liên tục.
“Riêng việc điều tiết nước theo chu kỳ ngập khô hợp lý đã đóng góp tới gần 50% tổng lượng giảm phát thải khí nhà kính của cả chu trình sản xuất lúa. Khi làm việc với các tổ chức quốc tế để đăng ký bán tín chỉ carbon, câu hỏi tiên quyết họ đặt ra cho chúng ta là cánh đồng đó có áp dụng kỹ thuật tưới ướt khô xen kẽ hay không”, ông Bùi Bá Bổng cho biết.
Từ phân tích này, khả năng chủ động cấp và rút nước là điều kiện quan trọng để thực hiện quy trình giảm phát thải. Việc mở rộng diện tích cần đi cùng đầu tư thủy nông nội đồng để nông dân có thể áp dụng kỹ thuật, đồng thời tạo cơ sở theo dõi và kiểm chứng kết quả trong từng vụ sản xuất.
Bên cạnh quản lý nước, các nhà khoa học tập trung giải quyết tập quán gieo sạ dày và sử dụng nhiều phân bón. Ông Nguyễn Văn Hùng, Trưởng Dự án Bón phân đúng của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), cho biết nhóm nghiên cứu đã điều tra trên 10.000 nông dân tại Đồng bằng sông Cửu Long để tìm giải pháp giảm vật tư đầu vào. Đây là vấn đề tác động trực tiếp đến thu nhập khi chi phí phân bón hiện chiếm trên 30% giá thành sản xuất lúa.
“Khi nông dân chuyển sang gieo sạ chính xác theo hàng rộng và hàng hẹp kết hợp máy vùi phân sâu, số lần bón phân giảm từ 3 - 4 lần xuống chỉ còn 2 lần, trong đó một lần đã được vùi ngay lúc gieo hạt. Kết quả thực nghiệm tại các mô hình điểm chứng minh giải pháp này giúp cắt giảm ít nhất 30% lượng phân đạm và giảm 30% lượng thuốc bảo vệ thực vật”, ông Hùng chia sẻ.
Giải pháp này kết hợp điều chỉnh lượng vật tư với cơ giới hóa ngay từ khâu gieo sạ. Nông dân có thể giảm số lần bón phân trong vụ, nhưng để áp dụng rộng rãi cần tổ chức sản xuất phù hợp với việc sử dụng máy móc. Hiệu quả kỹ thuật vì thế phải gắn với khả năng tiếp cận và duy trì cách làm tại từng vùng nguyên liệu.
Từ thực tế địa phương, ông Nguyễn Phước Thiện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, cho rằng lợi nhuận là yếu tố quyết định sự tham gia của người trồng lúa. Trong điều kiện giá bán còn biến động, giảm chi phí là giải pháp cần tập trung; tuy nhiên, việc triển khai nhiều mô hình riêng lẻ rồi kết thúc hỗ trợ đã khiến cơ sở lúng túng khi tiếp tục thực hiện.
Ông Thiện đề xuất ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo để xây dựng công cụ hỗ trợ tối ưu hóa chi phí trong chuỗi ngành hàng. Theo hướng này, nông dân hoặc hợp tác xã nhập dữ liệu của thửa ruộng để nhận khuyến cáo về lượng giống, phân bón và thời điểm rút nước phù hợp với tiểu vùng sinh thái. Đây là đề xuất nhằm hỗ trợ quyết định sản xuất dựa trên điều kiện cụ thể của đồng ruộng.
Ở cấp quản lý, ông Trần Trung Tính, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cho biết Bộ đang xây dựng đề án đặc thù về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho Đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, ông đặt ra yêu cầu xây dựng bộ Tiêu chuẩn Việt Nam về lúa gạo phát thải thấp và phương pháp định lượng phát thải thống nhất toàn quốc.
.webp)
Cán bộ kỹ thuật hướng dẫn nông dân ghi chép dữ liệu canh tác phục vụ theo dõi quá trình sản xuất.
Việc thống nhất tiêu chuẩn cần đi cùng hỗ trợ hợp tác xã đổi mới trang thiết bị và thực hiện truy xuất nguồn gốc. Khi quy trình canh tác và cách xác định kết quả có cơ sở chung, các bên mới có điều kiện phối hợp từ sản xuất đến chứng nhận, thay vì dừng ở những mô hình riêng lẻ.
Gắn nguồn vốn với kết quả giảm phát thải
Nếu kỹ thuật quyết định cách tổ chức sản xuất thì nguồn vốn ảnh hưởng đến khả năng mở rộng và duy trì quy trình. Chuyển đổi sang sản xuất lúa phát thải thấp đòi hỏi đầu tư cho hạ tầng tưới tiêu và cơ giới hóa, đồng thời cần kinh phí vận hành hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải (MRV).
Ông Trần Đại Nghĩa, Điều phối quốc gia, chuyên gia tài chính khí hậu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) tại Việt Nam, cho biết nhu cầu tài chính để thực hiện cam kết đóng góp do quốc gia tự quyết định trong lĩnh vực trồng trọt giảm phát thải lên tới trên 5 tỷ USD. Trong khi đó, đặc điểm sản xuất phân tán khiến việc đưa nguồn vốn đến các nông hộ gặp nhiều trở ngại.
Nhìn rộng ra các mục tiêu thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu đến năm 2040, Ngân hàng Thế giới ước tính Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD vốn đầu tư bổ sung, tương đương khoảng 6,8% GDP mỗi năm. Đây là nhu cầu đầu tư của cả nền kinh tế, cho thấy quy mô nguồn lực cần huy động để ứng phó với biến đổi khí hậu và chuyển đổi phương thức phát triển.
“Thách thức càng lớn hơn khi hệ thống nông nghiệp và lương thực toàn cầu hiện chỉ nhận được chưa đầy 5% tổng các dòng tài chính khí hậu quốc tế. Sản xuất lúa gạo của chúng ta lại phân tán với hàng triệu nông hộ nhỏ lẻ, dẫn đến chi phí giao dịch trên mỗi hợp đồng tài chính bị đẩy lên rất cao và khiến các tổ chức tín dụng e ngại”, ông Nghĩa phân tích.
.webp)
Nâng chất lượng hạt gạo và thu nhập người trồng lúa là mục tiêu của quá trình chuyển đổi sản xuất.
Một hướng giải quyết là kết hợp nguồn lực công với vốn thương mại và đầu tư tư nhân. Trong cơ chế tài chính hỗn hợp, vốn công đóng vai trò hỗ trợ giảm rủi ro để thu hút thêm các nguồn vốn khác. Việc tổ chức liên kết sản xuất cũng tạo điều kiện tập hợp nhu cầu đầu tư thay vì để từng nông hộ tiếp cận riêng lẻ.
Dự án Chuyển đổi chuỗi giá trị lúa gạo ứng phó với biến đổi khí hậu (TRVC) do Chính phủ Australia tài trợ thông qua Tổ chức Phát triển Hà Lan SNV lựa chọn cách tạo động lực kinh tế cho doanh nghiệp. Theo TS. Trần Thu Hà, Giám đốc dự án TRVC, doanh nghiệp tổ chức liên kết và hướng dẫn nông dân ghi chép nhật ký số hóa trên từng ô ruộng, đồng thời thực hiện quy trình kỹ thuật.
“Chúng tôi thuê đơn vị kiểm định độc lập quốc tế sử dụng công nghệ viễn thám và hệ thống MRV ở cấp độ Tier 3 cao nhất để đo đạc lượng phát thải giảm được thực tế. Doanh nghiệp đạt chuẩn sẽ nhận được giải thưởng tài chính tương ứng với lượng khí thải cắt giảm, với điều kiện lợi nhuận của nông dân phải đạt từ 30% trở lên và đảm bảo công bằng xã hội”, TS. Hà cho biết.
Theo bà, dự án đã triển khai qua 6 vụ trên 322.441 ha với hơn 72.000 nông hộ; lượng khí thải giảm được qua 3 vụ đầu đã xác nhận là 320.910 tấn. Bà cũng cho biết chứng nhận kiểm định đã giúp doanh nghiệp Angimex - Kitoku tiếp cận gói tín dụng xanh ưu đãi trị giá nhiều triệu USD từ Ngân hàng MUFG của Nhật Bản.
Trường hợp này cho thấy dữ liệu canh tác và kết quả kiểm định có ý nghĩa đối với việc tiếp cận vốn. Khi doanh nghiệp chứng minh được hiệu quả giảm phát thải, quá trình chuyển đổi có thêm cơ sở để kết nối với các tổ chức tài chính thay vì chỉ dựa vào nguồn hỗ trợ ban đầu.
.webp)
Đối với thị trường carbon trong nước, lộ trình hiện hành xác định giai đoạn thí điểm kéo dài đến hết năm 2028 và vận hành chính thức từ năm 2029. Lộ trình này cần phân biệt với các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon quốc tế, tránh hiểu rằng mọi giao dịch quốc tế đều phải chờ cùng một thời điểm.
Ông Bùi Bá Bổng lưu ý việc chuẩn bị cho thị trường carbon phải bắt đầu từ điều kiện sản xuất. Ngành lúa gạo cần hoàn thiện hệ thống MRV đạt chuẩn quốc tế và có cơ chế thu hút doanh nghiệp tham gia liên kết, đồng thời đầu tư cơ giới hóa và thủy nông nội đồng để thực hiện quy trình trên diện rộng.
Công nghệ và nguồn vốn vì vậy cần gắn với nhau ngay từ khâu tổ chức sản xuất. Khi nông dân giảm được chi phí và doanh nghiệp có dữ liệu kiểm chứng kết quả, chuỗi lúa gạo mới có thêm cơ sở tiếp cận tài chính xanh, từng bước chuẩn bị cho thương mại hóa tín chỉ carbon.
Bài cuối: Bảo đảm lợi ích người trồng lúa
Lưu Niệm (Báo Tin tức và Dân tộc)