Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, chiều 26-10, Quốc hội thảo luận ở tổ. Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi).

Bà Phạm Thị Minh Huệ phát biểu trong phiên thảo luận ở tổ chiều 26-10.
1. Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính (khoản 1, Điều 6).
Tại khoản 1, Điều 6, dự thảo quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo từng lĩnh vực, trong đó có các lĩnh vực áp dụng thời hiệu 2 năm, 3 năm và các trường hợp thực hiện theo quy định của luật khác. Đề nghị xem xét lại sự cần thiết, mục đích của việc kéo dài thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính lên đến 3 năm đối với một số lĩnh vực vì liệu việc kéo dài thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính có đảm bảo tính kịp thời không?
Ngoài ra, đề nghị làm rõ cơ sở lựa chọn thời hiệu 3 năm đối với từng lĩnh vực, bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm kịp thời theo nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính hay không? Vì đặt ra trường hợp: trong thời gian từ khi hành vi được thực hiện đến khi xem xét xử phạt, quy định pháp luật chuyên ngành có sự thay đổi dẫn đến hành vi không còn bị coi là vi phạm hoặc không còn thuộc trường hợp bị xử phạt thì cần quy định rõ nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng và xử lý chuyển tiếp, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tính hợp pháp của quyết định xử phạt và quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
2. Về xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử (Điều 19).
Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ các hoạt động thực hiện trên môi trường điện tử. Theo đó, cần xác định rõ các công việc như lập, ký, gửi và tiếp nhận biên bản vi phạm hành chính, thông báo, quyết định xử lý vi phạm hành chính… được thực hiện trực tiếp trên môi trường điện tử hay có thể thực hiện bằng bản giấy, sau đó số hóa và cập nhật vào hệ thống dữ liệu. Nếu chỉ quy định chung về việc xử lý trên môi trường điện tử thì có thể phát sinh cách hiểu và cách thực hiện khác nhau. Đồng thời, dự liệu trường hợp phát sinh sự cố kỹ thuật hoặc không thể thực hiện thủ tục trên môi trường điện tử, ví dụ: nếu cơ quan gửi thông báo đến địa chỉ điện tử hoặc tài khoản điện tử của người vi phạm nhưng người đó không truy cập được, không nhận biết được thông báo hoặc hệ thống xảy ra lỗi, thì việc xác định đã thực hiện nghĩa vụ thông báo như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền giải trình và thời hạn thực hiện quyền của họ.
Bên cạnh đó, đề nghị rà soát, bổ sung yêu cầu về tính thống nhất, khả năng kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa hệ thống thông tin phục vụ xử lý vi phạm hành chính của các địa phương với Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính. Trong đó, cần xác định rõ yêu cầu về cấu trúc, trường thông tin, chuẩn dữ liệu, phương thức kết nối, trách nhiệm cập nhật và đồng bộ dữ liệu, bảo đảm phù hợp với định hướng, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình triển khai của cơ quan có thẩm quyền ở trung ương. Việc này nhằm hạn chế tình trạng xây dựng hệ thống thiếu đồng bộ, gây khó khăn cho việc tích hợp, khai thác và quản lý dữ liệu trên phạm vi toàn quốc.
3. Các biện pháp khắc phục hậu quả tại khoản 1, Điều 29 dự thảo Luật.
Với quy định trên, có thể hiểu Quốc hội quy định 9 biện pháp khắc phục hậu quả (từ điểm a đến điểm i), còn các biện pháp khắc phục hậu quả do Chính phủ quy định (tại điểm k). Như vậy Quốc hội đã ủy quyền lập pháp để Chính phủ quy định chi tiết các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng lĩnh vực chuyên ngành. Tuy nhiên, không quy định cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội thẩm quyền quy định các biện pháp khắc phục hậu quả khác, tạo ra sự mâu thuẫn với Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng.
Ví dụ: Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 (được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15) xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng thì có rất nhiều các biện pháp khắc phục hậu quả không phải do Quốc hội quy định. Đơn cử, “buộc xin lỗi công khai”, “buộc gỡ bỏ thông tin, tài liệu, dữ liệu có chứa bí mật điều tra”, “buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật”, “buộc thu hồi, nộp lại tư liệu, tài liệu, hình ảnh”
Đây là những biện pháp khắc phục hậu quả khác do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định. Do đó, để bảo đảm quyền chủ động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc quy định các biện pháp khắc phục hậu quả khác với các biện pháp do Quốc hội quy định, đồng thời duy trì tính hợp pháp của những biện pháp khắc phục hậu quả đang hiện hữu trong các pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính.
Bên cạnh đó, tại khoản 4, Điều 12 dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật đã quy định thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh để quy định “4. Nội dung được Quốc hội giao trong luật.”.
Do đó, đề nghị điều chỉnh điểm k, khoản 1, Điều 29 Dự thảo Luật từ “Các biện pháp khắc phục hậu quả khác do Chính phủ quy định” thành “Các biện pháp khắc phục hậu quả khác do Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định”.
4. Về biện pháp cưỡng chế (điểm e, khoản 2, Điều 74).
Dự thảo Luật quy định các biện pháp cưỡng chế: “e) Yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước đối với công trình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được áp dụng để cưỡng chế thi hành hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tạm đình chỉ hoạt động có thời hạn và thi hành biện pháp khắc phục hậu quả”.
Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo đánh giá kỹ sự cần thiết, phạm vi áp dụng của biện pháp cưỡng chế quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 74 dự thảo Luật. Vì điện, nước là các dịch vụ thiết yếu đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh; việc ngừng cung cấp có thể làm gián đoạn quy trình sản xuất, gây thiệt hại về nguyên liệu, hàng hóa, máy móc, thiết bị, đồng thời ảnh hưởng đến người lao động, đối tác và các chủ thể khác cùng sử dụng hạ tầng. Vì vậy, cần đánh giá nguy cơ biện pháp này gây thiệt hại kinh tế lớn hơn so với hậu quả trực tiếp của hành vi vi phạm, cũng như khả năng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể không vi phạm.
5. Đồng thời, đề nghị nghiên cứu quy định cụ thể các điều kiện và cách thức áp dụng nhằm hạn chế những tác động không cần thiết.
Trong đó cần xem xét: (i) việc thông báo trước cho tổ chức, cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế và thời hạn thông báo; (ii) phạm vi ngừng cung cấp điện, nước theo hướng giới hạn ở khu vực, bộ phận hoặc hạng mục có liên quan trực tiếp đến việc thi hành quyết định cưỡng chế, hạn chế tối đa ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh không thuộc phạm vi bị đình chỉ; (iii) biện pháp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, đối tác và các chủ thể khác có liên quan; và (iv) điều kiện, thời điểm chấm dứt việc ngừng cung cấp điện, nước khi mục tiêu cưỡng chế đã đạt được.
6. Về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.
Đại biểu thống nhất với việc chuyển thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đưa đi cai nghiện bắt buộc từ Tòa án Nhân dân khu vực sang Chủ tịch UBND cấp xã nhằm rút ngắn thời gian thực hiện đơn giản hóa trình tự thủ tục góp phần đẩy mạnh hiệu quả của công tác phòng chống ma túy, phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm và vi phạm pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên tôi đề nghị đánh giá kỹ tính khả thi của việc chuyển thẩm quyền này sang Chủ tịch UBND cấp xã trong điều kiện hiện nay công việc của Chủ tịch UBND cấp xã là rất lớn khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp. Điều này cũng đã được Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề cập đến tại báo cáo thẩm tra số 1226 ngày 18-10-2026. Do đó, đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát đánh giá kỹ quy định này.
PV (lược ghi)