30/11/2007 - 11:55

Xã hội hóa giáo dục trong tiến trình CNH, HĐH đất nước (kỳ 2)

Bài 2: “Tận thu - Một biểu hiện tiêu cực của xã hội hóa giáo dục”

Quan điểm: XHH chỉ là biện pháp tạm thời nhằm huy động thêm sự đóng góp về tài chính của nhân dân trong lúc ngân sách nhà nước eo hẹp hiện nay khá phổ biến. Trong khi về bản chất XHHGD phải hướng tới việc tạo ra một phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội, học tập suốt đời, xây dựng một xã hội học tập, đảm bảo công bằng cho mọi trẻ em. Hậu quả của cách hiểu sai lệch này là không ít con em gia đình nghèo khó đáng ra được nhà nước hỗ trợ lại phải ở trong diện “được XHH” nên không thể tiếp tục đi học hoặc nếu đi học phải chịu những chi phí quá khả năng.

Thực hiện chủ trương XHHGD, cả nước đã huy động 8.658 tỉ đồng ngoài ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo (năm 2006). Bên cạnh đó các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp cũng đã góp hơn 900 tỉ đồng, hơn 22,356 triệu USD; 1,5 triệu m2 đất (tính đến 25-5-2007) hỗ trợ phát triển sự nghiệp giáo dục. Huy động nhiều tiền của dành cho giáo dục đương nhiên là rất quý, là một thành quả không thể phủ nhận mà công tác XHHGD mang lại. Nhưng đôi khi trong lúc điều hành, một số lãnh đạo cơ sở lại xuất phát từ quan điểm lệch lạc, coi XHHGD là “tận thu” nên đi liền với những đồng tiền thu về là “tai tiếng” không dễ gì gột rửa. “Tận thu” không đi đôi với cơ chế tài chính minh bạch, tăng chất lượng sẽ làm giảm niềm tin của nhân dân đối với bản chất tốt đẹp của nền giáo dục nhân văn XHCN.

GS Hồ Sĩ Thoảng (Liên hiệp các Hội KHKTVN) đã từng chua xót thốt lên rằng: “Có chuyện oái ăm cười ra nước mắt là nếu không có hộ khẩu thì không được học trường công vì ngân sách giáo dục chỉ phân bổ theo số dân có hộ khẩu thường trú. Rất nhiều học sinh nghèo: không cha, không có giấy khai sinh, hoặc theo cha mẹ vào thành phố kiếm sống... đã được xếp vào “diện XHH” phải học dân lập với mức học phí cao hơn.

 Giờ ăn của các cháu Trường Mầm non tư thục Hoàng Sơn (quận Ninh Kiều). Ảnh: BÍCH KIÊN

Nên gộp tất cả các khoản đóng góp vào một mối: học phí

Ngay trong các trường phổ thông công lập - bậc học được đại đa số các quốc gia coi là phúc lợi xã hội, miễn phí hoàn toàn, bên cạnh học phí (như trong Luật Giáo dục quy định), mỗi học sinh phải đóng cơ man các khoản: tiền ăn, tiền chăm sóc bán trú, tiền học năng khiếu, tiền phục vụ chuyên môn, bảo hiểm y tế - thân thể, quỹ lớp, quỹ trường, quỹ khen thưởng, tiền xây dựng trường lớp, tiền thuê lao công, đồng phục, bảo trì bảo dưỡng máy tính, điện nước, tiền điều hòa, tiền mua bảng tên...Tất cả đều được khoác tấm áo “tự nguyện” do Hội phụ huynh thông qua. Trong khi đó, trưởng Ban đại diện phụ huynh thật ra chỉ là 1 - 2 cá nhân, hầu hết do chính các thầy cô chỉ định. Trưởng Ban phụ huynh trong thực tế chỉ hoạt động như một đầu mối trung chuyển, tập hợp ý kiến giữa nhà trường và các gia đình, không thể là người đại diện về mặt pháp lý cho số đông. Việc các trường chỉ dựa trên ý kiến của các Trưởng Ban đại diện cha mẹ học sinh để định ra các khoản thu tự nguyện là thiếu tính pháp lý và gây nên nghi ngờ chính đáng về sự minh bạch của việc sử dụng các nguồn thu này.

Tổng các khoản đóng góp tự nguyện ở các trường đều cao hơn tiền học phí. Trong khi, để định ra mức học phí, phải được sự đồng ý của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các ban, ngành liên quan thì khoản đóng góp lớn hơn lại được lập ra một cách rất tùy tiện. Trong khi, nguồn học phí thu về phải nộp vào Kho bạc Nhà nước và các trường sử dụng theo đúng quy định tài chính thì các khoản thu “tự nguyện” này mỗi trường lại tùy ý sử dụng một kiểu. Thông thường, mỗi đời hiệu trưởng lại định ra một cơ chế chi tiêu nội bộ theo những lý lẽ riêng. Có chuyện nực cười là sau khi toàn thành phố ra quy định cấm giáo viên dạy bán trú tại nhà, chỉ được tổ chức dạy 2 buổi/ngày tại trường thì số tiền mỗi học sinh phải đóng không giảm (so với khi học tại nhà cô) nhưng số tiền mỗi cô giáo nhận về đã giảm đáng kể do Ban giám hiệu dành một số % để chi quản lý. Vậy là nảy sinh mâu thuẫn ngay trong nội bộ những người trong ngành. Vì quy mô giáo dục là rất lớn, chỉ cần một tỷ lệ phần trăm rất nhỏ cũng đủ để đội ngũ lãnh đạo có mức sống cách biệt hẳn so với cán bộ công nhân viên.

Từ thực trạng trên, nhiều ý kiến đề xuất, tất cả các khoản đóng góp trong nhà trường nên thu về một mối. Học sinh ở các trường khác nhau: công lập, dân lập, tư thục... có thể có các mức đóng khác nhau nhưng không nên chia làm nhiều khoản vì khó quản lý, dễ sinh tiêu cực. Chỉ đến khi chỉ còn một khoản phí duy nhất trong nhà trường và thực hiện theo một quy chế chi minh bạch thì mới có thể đạt cả hai yêu cầu của XHH là vừa tăng nguồn lực cho giáo dục đào tạo vừa ngăn chặn xu thế thương mại hóa.

Đào tạo tại chức, từ xa - nguồn “tận thu” chính của các trường đại học

Đối với các trường cao đẳng, đại học biểu hiện rõ nét nhất của chủ trương XHH là triển khai thực hiện cơ chế tự chủ. Đến 2007, hầu hết các trường đại học, cao đẳng, công lập đã tự chủ được 40% kinh phí hoạt động thường xuyên. Các trường vùng khó khăn cũng tự chủ được 10- 20%; khối kinh tế xã hội, ngoại ngữ, pháp luật tự chủ 50 - 60%. Hai trường tự chủ 90% là Đại học Mở Hà Nội và Đại học Mở TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều trường đại học, cao đẳng đang tích cực, chủ động đa dạng hóa các loại hình hoạt động sự nghiệp có thu như: đào tạo không chính quy, đào tạo từ xa... Nguồn thu của các trường đại học từ các công trình nghiên cứu khoa học, dịch vụ tư vấn chuyển giao công nghệ còn chiếm tỷ lệ thấp. Nhiều trường tìm cách tăng nguồn thu từ đào tạo không chính quy, tại chức. Đa dạng hóa các loại hình học tập là tốt nhưng mở rộng quá nhiều các lớp tại chức, từ xa... chính là cổ vũ cho trào lưu “mua bằng, bán điểm”, là một biểu hiện “tận thu”có tính tập thể của các trường. Không ít hiệu trưởng, hiệu phó của một số trường đại học tuần nào cũng làm Chủ tịch hội đồng tuyển sinh của các lớp đào tạo tại chức, từ xa ở các tỉnh! Không ít giảng viên đại học mỗi năm có hàng ngàn giờ dạy ? Tất cả chỉ để có “nguồn thu” cho trường và cho chính cá nhân. Tận thu kiểu này không làm tăng thêm chất lượng đào tạo và tăng tri thức cho người học nên cũng góp phần giảm niềm tin của người dân.

Nhìn chung, hoạt động của các trường công lập phụ thuộc vào 2 nguồn thu chính: Học phí và ngân sách nhà nước. Vì vậy, dư luận đang “nín thở chờ” công bố đề án học phí mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đối với bậc phổ thông, mức học phí phù hợp với khả năng chi trả của người dân, bằng 4 - 8% thu nhập bình quân của các gia đình ở từng vùng, miền khác nhau nhìn chung đã được đông đảo dư luận ủng hộ. Tuy nhiên, học phí sẽ thay đổi theo hướng đảm bảo chi phí đào tạo ở bậc cao đẳng, đại học lại gây ra không ít lo lắng. Cho dù đã có chế độ học bổng mới (cao gấp 3 lần học phí) và nguồn tín dụng ưu đãi 2.000 tỉ đồng trong năm 2008 để sinh viên nghèo vay vốn học tập, góp phần tăng cơ hội tiếp cận giáo dục trình độ cao cho con em nông thôn, gia đình nghèo nhưng hàng triệu gia đình cán bộ, công nhân viên chức vẫn lo lắng.

Theo khảo sát, chi phí giáo dục đại học của người dân giữa các nước rất khác nhau. Một số quốc gia châu Âu (các nước OECD): 22%; Pháp: 16,3 %; Hàn Quốc: 76,1 % và Nhật Bản: 60,3%. Thiết nghĩ tại Việt Nam, chính sách XHH, học phí nên thu đến mức nào cũng phải đảm bảo sự cân bằng giữa hai thái cực - một bên là dựa quá nhiều vào các gia đình và một bên là trông chờ vào nhà nước. Bản chất của giáo dục là vừa đem lại lợi ích cá nhân cho người học vừa đem lại lợi ích cho toàn xã hội. Chính vì thế, chủ trương XHH cần được nhìn nhận là sự tương tác giữa các hộ gia đình, cá nhân cố gắng vươn lên và Nhà nước tìm kiếm lợi ích cho toàn đất nước. Có thể tăng các nguồn thu ngoài ngân sách nhưng luôn phải cảnh giác với sự gia tăng này và cần phải liên tục xem xét để điều chỉnh nhằm đảm bảo mục tiêu cao nhất là chất lượng, công bằng và hiệu quả.

HOÀNG HOA (Theo TTXVN)

(Còn tiếp)

Kỳ sau: Xã hội hóa giáo dục không thể là “lạm thu - loạn thu”

Chia sẻ bài viết