23/03/2016 - 13:43

Phòng, chống hay thích ứng?

Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn từ cuối năm 2015 đến nay được xem là kỷ lục trong vòng 100 năm qua. Điều đó một lần nữa cho thấy, tác động của biến đổi khí hậu đang ngày càng mạnh mẽ và nhanh hơn so với những dự báo. Đây có thể được xem là một thách thức lớn đối cả vùng ĐBSCL trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

Mô hình tôm - lúa ở huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Ảnh: X. TRƯỜNG

Khi những con số thiệt hại do hạn hán, xâm nhập mặn không ngừng tăng lên từ đầu mùa khô 2016 đến nay, người viết chợt nhớ đến lời cảnh báo của ông Đoàn Nam Sinh, Giám đốc Công ty TNHH Sinh Thành tại Hội thảo quốc tế về mô hình sản xuất lúa – tôm, được tổ chức tại tỉnh Sóc Trăng vào năm 2009. Ông Đoàn Nam Sinh là người duy nhất cho rằng, tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ đến sớm hơn so với những dự báo của các nhà khoa học, đẩy nghề sản xuất lúa ở khu vực ĐBSCL lâm vào tình trạng thiếu nước tưới nghiêm trọng. Ông nhận định: "Đối với ĐBSCL, chậm nhất đến năm 2020 sẽ chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Tuy nhiên, theo tôi, khả năng lớn nhất là từ năm 2017. Vì vậy, chúng ta cố gắng duy trì và phát triển mô hình lúa – tôm và đây sẽ là mô hình sản xuất chủ lực cho các vùng ven biển khu vực ĐBSCL". Thật tình, lúc đó, không chỉ có tôi, mà hầu hết những người tham gia hội thảo đều không mấy tin vào dự đoán của ông Đoàn Nam Sinh, cho dù ông đã dẫn không ít cơ sở mang tính khoa học, như: tình trạng trái đất ấm lên, rừng đầu nguồn bị tàn phá nặng nề, mực nước ngầm bị sụt giảm, các nước đầu nguồn lưu vực sông Mê Kông sẽ tăng cường xây dựng nhiều hơn những đập thủy điện, hồ chứa nước…

Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn gay gắt trong mùa khô năm 2016 một lần nữa nhắc nhở chúng ta rằng, biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã và đang hiện hữu trên từng lưu vực, từng cánh đồng, chứ không phải đợi đến những năm 2050 hay xa hơn nữa. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc chúng ta cần có những biện pháp mới để có thể "sống cùng hạn, mặn", nếu muốn duy trì và phát triển sản xuất một cách bền vững. Kinh nghiệm "sống cùng với lũ" đã có và nó cũng thật sự hữu ích khi áp dụng để sống cùng hạn, mặn. Kinh nghiệm đó cho thấy rằng, nếu chỉ áp dụng biện pháp phòng, chống thôi là chưa đủ và thường không mang lại hiệu quả cao, mà cái chính là phải điều chỉnh lại sản xuất, sinh hoạt để từng bước thích nghi với sự biến đổi của tự nhiên. Bây giờ nguồn nước ngọt về hạ lưu sông Mê Kông đang ngày một ít đi, do các nước vùng thượng nguồn không ngừng xây dựng đập thủy điện, hồ chứa nước quy mô lớn, nên bài toán "sống cùng hạn, mặn" đối với các tỉnh vùng hạ lưu như Sóc Trăng rất cần được đặt ra. Điều này là rất rõ ràng, khi cả vùng Dự án Long Phú – Tiếp Nhựt dù được khép kín hoàn toàn để ngăn mặn, nhưng sản xuất vẫn bị thiệt hại vì không có nguồn tiếp nước ngọt. Và như thế, nếu cứ giữ diện tích lúa cùng cơ cấu mùa vụ như hiện nay sẽ là một vấn đề hết sức khó khăn cho những năm về sau vì hạn hán, xâm nhập sẽ ngày càng gay gắt. Do đó, nếu muốn không phải phòng, chống hạn mặn một cách bị động như hiện nay, ngoài giải pháp công trình, chúng ta cần tính đến các mô hình sản xuất thích ứng với hạn, mặn.

Trong chuyến công tác vừa qua về xã Long Phú, một số nông dân ở đây đã nói với tôi rằng: "Nếu tình hình hạn, mặn như vầy hoài, chắc phải chuyển qua làm tôm – lúa như huyện quá!". Đó cũng là một gợi ý không quá tệ cho tương lai của những vùng thường xuyên thiệt hại do hạn hán và xâm nhập mặn. Gợi ý đó tuy hãy còn quá sớm, nhưng cũng đáng để suy nghĩ, vì nếu không, chúng ta lại rơi vào thế bị động để rồi phải ra sức phòng, chống như hiện nay.

Tích Chu

Chia sẻ bài viết