Nhằm xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng, văn hóa của Đảng, thời gian qua không chỉ xuất hiện nhiều phát ngôn, thông tin, tác phẩm có nội dung xuyên tạc nền văn học cách mạng kháng chiến, mà một số người còn xuất bản những tác phẩm mang khuynh hướng hạ bệ thần tượng lãnh tụ, xuyên tạc các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Do vậy, nhận diện, phê phán những biểu hiện lệch lạc này là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay.
Bóc mẽ ý đồ hạ bệ thần tượng, xuyên tạc các giá trị văn hóa
Thời gian qua, bên cạnh phần lớn văn nghệ sĩ vẫn một lòng một dạ thủy chung với đất nước, sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị phục vụ đất nước, xã hội, qua đó góp phần làm giàu đời sống tinh thần và nâng cao phẩm giá con người, thì một số tác giả lại có biểu hiện lệch lạc trong sáng tạo văn học, nghệ thuật. Điều này đã được đại diện Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam thẳng thắn chỉ ra: Một số văn nghệ sĩ phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng, xem nhẹ trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân. Tác phẩm của họ thường xa rời thực tiễn đời sống của đất nước, của nhân dân. Một số phát ngôn, hồi ký, sách báo, sáng tác văn học có hiện tượng hạ bệ thần tượng lãnh tụ, bôi đen giá trị thiêng liêng của lịch sử, của chế độ, xuyên tạc các giá trị văn hóa truyền thống nhân văn của dân tộc.
.webp)
Ảnh minh họa: thanhnien.vn
Một là, bôi đen các nhân vật truyền thuyết với mục đích “giải thiêng” nguồn cội dân tộc. Ví như có “tác giả” gốc Việt viết về bánh chưng nhưng với giọng dè bỉu gọi đó là món ăn tiểu nông chứng minh sự đói kém, vụng về, thô tục. Tức là họ mượn món ăn truyền thống cúng tổ tiên trong ngày Tết cổ truyền để “giải thiêng” một biểu tượng văn hóa, thâm hiểm hơn là “giải thiêng” các Vua Hùng - một biểu tượng thiêng về cội nguồn cũng như tinh thần đoàn kết dân tộc. Cũng một “tác giả” ngoài nước gốc Việt lại cố tình hiểu thô tục chi tiết “Âu Cơ đem năm mươi người con lên núi, Lạc Long Quân đem năm mươi người con xuống biển” là “tạo ra truyền thống về sự ly dị”. Trong tiểu thuyết “Giàn thiêu”, một nhà văn chống cộng xuyên tạc huyền thoại Ỷ Lan cho xây chùa, khuyến khích đạo Phật là cách “hối lộ” Phật tổ để thoát tội giết Thái hậu Thượng Dương cùng 76 cung nữ; bôi đen huyền thoại thiền sư Từ Đạo Hạnh đầy bản năng dục vọng, ích kỷ, nhỏ nhen. Ý đồ xấu của họ là làm phân rã tính thiêng đạo Phật vốn ăn sâu vào tâm hồn, tính cách Việt, gieo rắc sự nghi ngờ dẫn tới phá hoại sự đoàn kết tôn giáo.
Hai là, hạ bệ các danh nhân lịch sử có thật. Đáng lên án nhất là nhiều đối tượng cố tình lợi dụng sáng tác hình tượng văn học để tập trung bôi nhọ trắng trợn hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở phương diện tư tưởng và đạo đức bằng cách bịa đặt, xuyên tạc với dụng ý tạo ra một con người Hồ Chí Minh khác hẳn, đối lập với con người Hồ Chí Minh giản dị, trong sáng ở đời thường. Vì hình tượng là một cá nhân thực sự vĩ đại nên để tạo ra một hình tượng khác thì “tác giả” cũng có thủ đoạn hết sức tinh vi, ví như một nữ tác giả ở hải ngoại công khai tác phẩm bôi nhọ lãnh tụ Hồ Chí Minh rất thô bỉ, thâm hiểm. Bên cạnh đó, một số tác giả người Việt nhân danh “giải thiêng” đã bôi nhọ hình ảnh anh hùng dân tộc Quang Trung-Nguyễn Huệ, Nguyễn Trãi khi xuyên tạc rằng các nhân vật lịch sử đó "mang bản năng thấp kém" trong quan hệ tình ái.
Ba là, xuyên tạc về cuộc kháng chiến cách mạng của dân tộc ta. Một số "tác giả" lợi dụng văn học để xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta, coi đó không phải là cuộc đấu tranh chống xâm lược mà chỉ là sự xung đột ý thức hệ giữa “cộng sản” và “tư bản”. Có "nhà văn" cho nhân vật nhại câu thơ nổi tiếng (“Đường ra trận mùa này đẹp lắm!” của Phạm Tiến Duật) để ngầm mỉa mai cả một thời anh hùng của dân tộc Việt Nam. Lại có "nhà phê bình văn học" lèo lái dư luận bằng cái gọi là “nhận định” tư duy văn học cách mạng 1945-1975 là “tư duy cổ tích”, tức là tư duy không có thật, hoang đường...
Không được lợi dụng tính chất hư cấu của sáng tác văn chương để xuyên tạc lịch sử
Lấy chất liệu từ hiện thực cuộc sống, nhờ tài năng hư cấu, óc tưởng tượng, liên tưởng, nhà văn kiến tạo nên tác phẩm. Từ hiện thực khách quan, hình tượng nghệ thuật đi vào tác phẩm sẽ bị khúc xạ bởi lăng kính chủ quan của nhà văn, do vậy, tất yếu luôn mang một độ “mờ” nhất định. Hình tượng được miêu tả càng xa hiện tại, độ “mờ” càng lớn. Thế nên hầu hết “tác phẩm” đi theo lối “hạ bệ thần tượng” thường là truyện/tiểu thuyết lịch sử. Các “tác giả” trên đã làm cái việc ngược đời là trồng cây độc lên trên nền móng bằng vàng của lịch sử nên cây không thể sống được, nó tự héo úa, sớm muộn cũng bị độc giả dọn vứt đi. Một vài trong số họ “biện luận” rằng đã là văn chương thì phải hư cấu, nếu viết đúng như lịch sử thì không còn là văn chương.
Nhìn từ triết học liên hóa thì quá khứ là bệ phóng, là điểm tựa nên hiện tại phải tôn trọng, trân trọng lịch sử để rút ra bài học cho tương lai. Với văn chương, chỉ được phép hư cấu trên nền móng ổn định của lịch sử. Hiểu vậy thì nhà văn hoàn toàn có thể sáng tạo mới về Nguyễn Trãi, Quang Trung... theo hướng làm tôn lên những phẩm chất anh hùng cao cả, nhân văn. Còn viết ngược lại là phá vỡ cấu trúc một biểu tượng văn hóa, tức phá hoại di sản văn hóa dân tộc.
Cũng có tác giả lại vận dụng thô thiển “giải cấu trúc” (deconstructivism) vốn là lý thuyết chống lại sự tuyệt đối hóa của chủ nghĩa cấu trúc coi ngôn ngữ là hệ thống ổn định, bất biến. Giải cấu trúc kêu gọi khám phá mâu thuẫn của văn bản để tìm ra “nghĩa bỏ sót” còn bị đóng kín. Có người căn cứ vào một đặc điểm của văn học kháng chiến là phân cực ta-địch, tốt-xấu, dũng cảm-hèn hạ... rồi xếp văn học này vào loại hình tư duy cổ tích, tức đẩy nó về với thời xa xưa, lạc hậu. Chỉ lấy một đặc trưng, cố tình bỏ qua các đặc điểm khác để ép vấn đề vào một loại hình khác, dân gian mỉa mai cách làm này là “gọt chân cho vừa giày”. Sự quy chụp khiên cưỡng này không chỉ thể hiện sự thiếu khoa học, còn là thái độ thiếu tôn trọng lịch sử, thiếu trân trọng giá trị văn hóa dân tộc.
Văn nghệ sĩ không nên nhìn đời bằng con mắt hẹp hòi, nhỏ nhoi
Xét riêng trong văn học, nghệ thuật thì nhân dân vừa sáng tạo ra của cải vật chất, vừa sáng tạo ra những giá trị tinh thần. Vô luận trong trường hợp nào, tác phẩm nghệ thuật đều phải phản ánh những sự kiện, những vấn đề của đời sống có ý nghĩa đối với vận mệnh, hạnh phúc của nhân dân. Không chỉ là cội nguồn, là động lực, là mục tiêu của sáng tạo nghệ thuật, còn là người tiếp nhận, phổ biến, trao truyền, do vậy, nhân dân cũng là người điều chỉnh nghệ thuật đi đúng với quỹ đạo tiến bộ. Vì thế, mọi sự “chấn hưng”, “đổi mới” đều phải căn cứ vào vấn đề gốc là nhân dân. Phải hướng về nhân dân, viết về họ với những quan niệm, suy nghĩ, ước mơ, những khát khao, những nỗi buồn... Phải dùng ngôn ngữ, nếp nghĩ, nếp cảm của nhân dân để sáng tạo. Nghệ thuật cần “cái khác” nhưng “mỹ học cái khác” phải phù hợp, phải nằm trong nền mỹ học dân tộc-một nền mỹ học của nhân dân.
Trong văn học, nghệ thuật, tư tưởng, quan niệm là vấn đề nền tảng nên phải thật quan tâm, chú ý đến việc giáo dục tư tưởng chính trị và cập nhật tri thức cho văn nghệ sĩ một cách thực chất, hiệu quả. Thực tế vừa qua cho thấy, vì gốc không vững nên có “cây” nghệ sĩ ngả theo xu hướng ngoại lai đã lạc hậu với thiên hạ, xa lạ với văn hóa Việt, lại đem về “lai ghép” thành ra hỗn độn, tối tăm. Đây không chỉ là quan niệm, còn là vấn đề nhận thức và tri thức về văn hóa, văn minh thời đại. Vì không hiểu lịch sử, trường phái, ý thức, không phân biệt được tích cực-tiêu cực, những cái không phù hợp của “hậu hiện đại” mà có người “bứng” cả cái cũ, cái lạ (không phải mới) về Việt Nam rồi “sáng tác”... Ngoài sự thiếu tỉnh táo, cảm tính còn cho thấy sự đọc chưa rộng về cái hay-dở, cũ-mới của thế giới.
Trong thời đại hội nhập với thế giới, bên cạnh việc học tập tinh hoa lý luận văn nghệ nước ngoài, vấn đề căn cốt là chú trọng nghiên cứu tiếp thu, kế thừa, phát triển lý luận văn nghệ truyền thống dân tộc. Vấn đề này Bác Hồ đã nhắc nhở từ mấy chục năm trước: “Muốn thấy hết cái hay, cái đẹp của nghệ thuật dân tộc ta, thì phải đừng bị trói buộc bởi những tiêu chuẩn này nọ của nghệ thuật phương Tây... phải dựa trên tiêu chuẩn của ta. Tiêu chuẩn ấy là gì? Đó là nền mỹ học ẩn chứa trong thực tiễn truyền thống nghệ thuật dân gian, dân tộc”. Bất kỳ lý thuyết nào cũng ra đời trên một cơ sở xã hội riêng, do vậy, lý thuyết nước ngoài nào vào Việt Nam bao giờ cũng có “độ vênh” nhất định. Nếu không có sự điều chỉnh, khắc phục, “độ vênh” ấy sẽ tạo ra những hệ lụy tất yếu. Trong khi đó mỹ học của nền văn học, nghệ thuật truyền thống của ta là cả một kho vàng tư tưởng còn chìm trong các sáng tác văn chương chưa được khám phá, khai thác.
Để văn nghệ sĩ không đi chệch hướng, có biểu hiện lệch lạc trong sáng tác, rất cần nhắc lại ý kiến của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (1944-2024) trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (25-7-1948 / 25-7-2023): “Thời đại chúng ta, cuộc sống quanh ta có rất nhiều điều để nói, để viết, nhưng quan trọng là nói như thế nào và viết như thế nào? Nhiều người thường bảo, văn nghệ phải chiếu sáng cuộc sống, chứ không chỉ là nơi cuộc sống hiện hình; văn nghệ bồi dưỡng, nâng cao con người chứ không phải chỉ là nơi giãi bày tâm trạng cá nhân, hạ thấp con người. Các văn nghệ sĩ nhận thức và thể hiện thật rõ điều đó để xứng đáng với niềm tin yêu và hy vọng mới của nhân dân; đừng để cho sự tầm thường, dễ dãi ám ảnh mình”.
Muốn vậy, các văn nghệ sĩ phải luôn duy trì ngọn lửa khát vọng lớn lao, lý tưởng cao cả, hòa chung nhịp đập trái tim mình với nhịp đập trái tim toàn dân tộc, lăn lộn với thực tiễn lao động, cuộc sống phong phú, sôi động của các tầng lớp nhân dân, chứ không phải chỉ sa vào tâm trạng cá nhân, gặm nhấm tâm tư, yếm thế, lấy tiểu xảo thay cho tài năng, nhìn đời bằng góc nhìn hẹp hòi, nhỏ nhoi, thậm chí coi văn nghệ chỉ đơn giản như là một thú vui, giải trí hoặc một cuộc chơi, một sự đam mê tầm thường. Điều đó không những làm tổn thương đến sứ mệnh cao cả của văn nghệ sĩ cách mạng mà còn gây tác hại khôn lường đến sự phát triển lành mạnh của nền văn học, nghệ thuật nước nhà.
PGS. TS. Nguyễn Thanh Tú (Báo Quân đội Nhân dân)