Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị, nhiều cơ chế mới về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được ban hành. Tuy nhiên, để biến chủ trương thành động lực tăng trưởng mới, cần tháo gỡ hàng loạt "nút thắt" tồn tại trong toàn bộ chuỗi nghiên cứu, từ xác định nhiệm vụ, tổ chức thực hiện đến thương mại hóa sản phẩm.
Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã chỉ rõ 12 điểm nghẽn lớn cùng các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Từ chiến lược đến nhiệm vụ nghiên cứu còn nhiều "nút thắt"
Theo Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, một trong những điểm nghẽn đầu tiên được chỉ ra là việc xác lập định hướng chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn chưa thực sự gắn với nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Theo đó, cơ chế đặt hàng nghiên cứu hiện chủ yếu xuất phát từ các cơ quan quản lý, trong khi tiếng nói của doanh nghiệp - chủ thể trực tiếp ứng dụng kết quả nghiên cứu - còn khá mờ nhạt. Điều này dẫn đến tình trạng không ít nhiệm vụ nghiên cứu chưa bám sát yêu cầu của thị trường.

Vùng trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh sẽ trở thành thủ phủ tài chính, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN
Bên cạnh đó, hệ thống danh mục công nghệ hiện còn tồn tại nhiều lớp khác nhau như công nghệ chiến lược, công nghệ cao ưu tiên phát triển, sản phẩm công nghệ số trọng điểm... nhưng chưa được tích hợp thành một hệ thống thống nhất. Việc thiếu sự đồng bộ này có nguy cơ dẫn đến đầu tư dàn trải, phân tán nguồn lực.
Một hạn chế khác là vai trò của Tổng công trình sư quốc gia chưa được luật hóa, trong khi mối liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp vẫn chủ yếu dựa trên cơ chế phối hợp, chưa trở thành ràng buộc pháp lý.
Để tháo gỡ, đề xuất sớm ban hành cơ chế pháp lý về Tổng công trình sư quốc gia; thống nhất hệ thống danh mục công nghệ chiến lược; định kỳ rà soát, cập nhật theo chu kỳ hai năm; đồng thời thể chế hóa mô hình liên kết "3 nhà", đưa doanh nghiệp trở thành chủ thể đặt hàng trong các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia.
Nếu chiến lược là "đầu vào" thì khâu xác lập nhiệm vụ nghiên cứu lại được xem là điểm nghẽn tiếp theo.
Hiện nay, quá trình đề xuất và phê duyệt một nhiệm vụ nghiên cứu thường kéo dài từ 6 đến 12 tháng. Điều đáng chú ý là tổ chức hoặc nhà khoa học đưa ra ý tưởng ban đầu lại chưa được ưu tiên triển khai chính đề tài của mình sau khi nhiệm vụ được công bố tuyển chọn. Điều này làm giảm động lực sáng tạo và khiến nhiều ý tưởng có giá trị không được đề xuất.
Trong khi đó, doanh nghiệp vẫn chưa tham gia ngay từ khâu xác định bài toán nghiên cứu; cơ chế bảo vệ ý tưởng ban đầu cũng chưa rõ ràng.
Ban chỉ đạo kiến nghị áp dụng quy trình số hóa một cửa để rút ngắn thời gian xác lập nhiệm vụ xuống còn 1-3 tháng; có cơ chế bảo hộ người đề xuất ý tưởng; mở rộng vai trò của doanh nghiệp trong hội đồng xác định nhiệm vụ; đồng thời nghiên cứu cơ chế đồng tài trợ giữa Nhà nước và doanh nghiệp đối với các đề tài nghiên cứu ứng dụng.
Nhiều rào cản trong triển khai và thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Không chỉ ở giai đoạn chuẩn bị, hàng loạt điểm nghẽn tiếp tục xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện.
Hội đồng xét duyệt nhiệm vụ vẫn còn nặng tính hành chính, thiếu chuyên gia đầu ngành và chuyên gia quốc tế; cơ chế đồng tài trợ công - tư chưa phát huy hiệu quả; việc giải ngân kinh phí còn chậm, trong khi Việt Nam vẫn thiếu quỹ đầu tư rủi ro dành cho các công nghệ chiến lược.
Trong quá trình triển khai, cơ chế khoán chi chưa được áp dụng thống nhất. Nhiều tổ chức nghiên cứu vẫn phải thực hiện thanh quyết toán theo chứng từ chi tiết, làm gia tăng thủ tục hành chính. Định mức chi cho chuyên gia chưa theo kịp mặt bằng thị trường, trong khi hệ thống giám sát tiến độ nghiên cứu còn thiếu tính minh bạch.
Về giải pháp, đề xuất chuyển mạnh sang cơ chế khoán chi toàn diện, điều chỉnh định mức chi theo giá thị trường, xây dựng hệ thống quản lý tiến độ trực tuyến và thí điểm giám sát độc lập bởi bên thứ ba nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nghiên cứu.
Một "nút thắt" khác là khâu nghiệm thu. Dù chủ trương chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu đã được xác định, nhưng chưa có quy định cụ thể để bảo vệ nhà khoa học khi kết quả không đạt như kỳ vọng do nguyên nhân khách quan. Việc đánh giá vẫn thiên về quy trình, chưa coi trọng đầy đủ hiệu quả ứng dụng và khả năng thương mại hóa của sản phẩm.
Để khắc phục, báo cáo kiến nghị bổ sung tiêu chí đánh giá dựa trên giá trị ứng dụng và khả năng thương mại hóa; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia để theo dõi hiệu quả sau nghiệm thu, đồng thời cụ thể hóa cơ chế miễn trừ trách nhiệm đối với rủi ro khoa học khách quan.
Hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
Ở giai đoạn sau nghiên cứu, hàng loạt điểm nghẽn tiếp tục được nhận diện trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, định giá tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ và phát triển thị trường.
Năng lực thẩm định sáng chế trong các lĩnh vực công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học còn hạn chế; thiếu chuyên gia định giá tài sản trí tuệ và chưa có phương pháp định giá thống nhất. Đây là nguyên nhân khiến nhiều kết quả nghiên cứu khó được thương mại hóa hoặc góp vốn bằng tài sản trí tuệ.
Trong khi đó, các sàn giao dịch công nghệ hiện vẫn chủ yếu làm nhiệm vụ trưng bày, giới thiệu, chưa trở thành thị trường giao dịch đúng nghĩa. Thiếu đội ngũ môi giới công nghệ chuyên nghiệp và dữ liệu minh bạch khiến doanh nghiệp chưa mạnh dạn tiếp nhận kết quả nghiên cứu từ các viện, trường.
Ban chỉ đạo cũng chỉ ra những khoảng trống trong hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo khi chưa có quy định thống nhất về doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off), chưa hình thành Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia, còn thiếu cơ chế ưu đãi đối với nhà đầu tư thiên thần và cơ chế đầu tư đối ứng. Các trung tâm đổi mới sáng tạo cũng chưa phát huy vai trò kết nối viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; thiếu cơ chế chia sẻ phòng thí nghiệm, thiết bị và chuyên gia quốc tế.
Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn chưa có phương pháp thống nhất để xác định tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng trong nước đối với các sản phẩm công nghệ mới. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật còn thiếu và chậm cập nhật, trong khi chính sách mua sắm công chưa thực sự tạo thị trường cho sản phẩm khoa học, công nghệ. Cơ chế "Nhà nước là khách hàng đầu tiên" vẫn chưa được hình thành, làm giảm động lực đưa các sản phẩm mới vào thực tiễn.
Theo Ban chỉ đạo, việc tháo gỡ đồng bộ 12 điểm nghẽn sẽ giúp hình thành một chuỗi đổi mới sáng tạo thông suốt, từ xác định nhu cầu nghiên cứu, tài trợ, triển khai, bảo hộ sở hữu trí tuệ đến chuyển giao, thương mại hóa và mở rộng thị trường. Đây cũng là điều kiện quan trọng để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới theo tinh thần Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị.
Theo XM/Báo Tin tức và Dân tộc