Ngành Trồng trọt ở ĐBSCL ngày càng đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng và xâm nhập mặn (XNM). Điều này, đòi hỏi các địa phương trong vùng ĐBSCL cần quan tâm hỗ trợ, hướng dẫn nông dân đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, giống cây trồng mới và đổi mới phương thức canh tác để đảm bảo hiệu quả sản xuất.
Yêu cầu đổi mới sản xuất
ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước, đóng góp tới 50% sản lượng lúa gạo quốc gia, trong đó lúa gạo của vùng chiếm khoảng 90% kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước. ĐBSCL cũng là nơi cung cấp chủ lực nhiều loại rau, quả phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Nhờ chuyển đổi sang trồng các loại rau màu chịu hạn, đặc biệt là hành tím mà nông dân vùng ven biển TP Cần Thơ đã có thu nhập khá cao, giảm được rủi ro so với trồng lúa. Trong ảnh: Trồng hành tím tại phường Vĩnh Châu.
Tuy nhiên, ngành trồng trọt của vùng đang đối mặt với nhiều thách thức do BĐKH và XNM. Đặc biệt, tình trạng XNM và đất bị nhiễm mặn không chỉ tác động đến hệ sinh thái, làm giảm nước ngọt, giảm năng suất, chất lượng, sản lượng của cây trồng mà còn đe dọa đến sinh kế của hàng triệu hộ dân.
Nhiều chuyên gia cho rằng, để đảm bảo và nâng cao hiệu quả sản xuất trồng trọt, các bộ, ngành Trung ương và địa phương vùng ĐBSCL cần định hướng, hỗ trợ người dân đổi mới sản xuất; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giống cây trồng mới, xây dựng cơ cấu mùa vụ và phát triển các mô hình sản xuất phù hợp nhằm thích ứng tốt với BĐKH, XNM và thiếu nước ngọt.
Theo TS Nguyễn Thành Tâm, Viện Mekong, Đại học Cần Thơ, ĐBSCL đang chịu tác động mạnh của BĐKH, nước biển dâng và XNM, cũng như tình trạng hạn hán, lũ lụt bất thường. Để sản xuất nông nghiệp bền vững cần chuyển đổi sang mô hình canh tác phù hợp hơn. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết 20/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng BĐKH, với mục tiêu chuyển đổi tư duy từ "chống lại" sang "sống chung" và thuận theo tự nhiên (thuận thiên) để phát triển nông nghiệp bền vững, giảm thiểu thiệt hại do hạn mặn.
Vùng ĐBSCL có thể phát triển nhiều mô hình nông nghiệp cho các vùng ven biển nhiễm mặn như mô hình luân canh lúa - tôm, mô hình kết hợp lúa - cá, lúa - vịt, canh tác tiết kiệm nước, mô hình nông nghiệp sinh thái, hữu cơ và tuần hoàn hay chuyển đổi từ lúa sang các cây trồng chịu hạn mặn tốt hơn. Chú ý trữ nước mưa và các nguồn nước ngọt để phát triển các mô hình canh tác thủy canh các loại cây trồng có giá trị cao.
Tăng cường phối hợp, hợp tác
PGS.TS Văn Phạm Đăng Trí, Viện trưởng Viện Mekong, Đại học Cần Thơ, cho rằng: "Vùng ĐBSCL là một hệ thống kinh tế - xã hội - sinh thái có ý nghĩa chiến lược, giữ vai trò then chốt đối với an ninh lương thực quốc gia, sinh kế người dân và ổn định khu vực. Tuy nhiên, khu vực này đang ngày càng dễ bị tổn thương trước BĐKH, nước biển dâng và các hoạt động phát triển ở thượng nguồn. XNM, sụt lún đất, suy giảm đa dạng sinh học và gián đoạn sinh kế là những thách thức có tính liên kết chặt chẽ, bị gia tăng và chồng lấn bởi các thực hành nông nghiệp thâm canh cùng với quản lý nước, trầm tích chưa bền vững tại vùng ĐBSCL. Nhưng các biện pháp ứng phó hiện nay còn phân mảnh, các nghiên cứu, chính sách về tài nguyên nước còn thiếu tích hợp ở quy mô toàn đồng bằng, thiếu đánh giá đầy đủ các tác động xã hội".
Cũng theo PGS.TS Văn Phạm Đăng Trí, quản lý thích ứng tích hợp cần vượt ra ngoài các giải pháp theo từng ngành và lĩnh vực riêng lẻ. Cần tăng cường liên kết giữa khoa học - chính sách - thực tiễn, thúc đẩy hợp tác xuyên biên giới và chia sẻ tri thức. Đây là những yếu tố then chốt nhằm hỗ trợ các lộ trình thích ứng dài hạn dựa trên bằng chứng, dữ liệu và bao trùm xã hội cho ĐBSCL.
Theo ông Arjen deVos, Giám đốc Tổ chức The Salt Doctors (tổ chức quốc tế chuyên cung cấp các dịch vụ, giải pháp nông nghiệp bền vững), nhiễm mặn là một thách thức cấp bách tại ĐBSCL và nhiều vùng khác, nhưng cũng tạo cơ hội để minh chứng nông nghiệp trên đất mặn có thể bảo đảm sinh kế cho nông dân, tăng cường an ninh lương thực quốc gia. Đối với các vùng bị ảnh hưởng của XNM, cần chú ý sử dụng giống cây chịu mặn và phát triển các hệ thống thủy canh giúp duy trì năng suất cao quanh năm và đảm bảo sử dụng nước hiệu quả, nhất là ở những khu vực mà canh tác truyền thống gặp khó.
Tổ chức The Salt Doctors coi Việt Nam là một quốc gia chiến lược để thúc đẩy nông nghiệp thông minh thích ứng với đất bị nhiễm mặn. Tổ chức The Salt Doctors sẵn sàng mang đến Việt Nam nhiều dịch vụ đa dạng, trong đó có việc đánh giá và lập bản đồ mặn giúp xác định rủi ro và cơ hội; phối hợp đào tạo, nâng cao năng lực, kiến thức cho người dân tại địa phương và thiết kế các giải pháp có thể mở rộng, vừa khả thi về kỹ thuật vừa phù hợp thị trường…
Theo bà Raissa Marteaux, Tổng Lãnh sự Vương quốc Hà Lan tại TP Hồ Chí Minh, ngành Trồng trọt Việt Nam có nhiều tiềm năng trong mở rộng sản xuất nông sản giá trị cao và bền vững cho thị trường trong nước và quốc tế. Việc xây dựng khả năng chống chịu với XNM, cải thiện quản lý nước, nâng cao năng suất và cải thiện hệ thống sau thu hoạch sẽ là yếu tố then chốt để khai thác tiềm năng này.
Nhiều năm qua, Hà Lan và Việt Nam hợp tác chặt chẽ thông qua các thỏa thuận Đối tác chiến lược về nông nghiệp bền vững và an ninh lương thực, cũng như quản lý nước và BĐKH. Ngành Trồng trọt vùng ĐBSCL từ lâu là những ưu tiên trong hợp tác song phương giữa 2 quốc gia. Hà Lan vẫn cam kết chia sẻ kiến thức, công nghệ và hợp tác vì lợi ích chung về kinh tế và môi trường.
Bài, ảnh: KHÁNH TRUNG