* TS. TRỊNH THỦY
Bộ Công Thương
Những đóng góp đáng ghi nhận
Khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) của nước ta ra đời và phát triển là kết quả của đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986). KCN đầu tiên của Việt Nam là Khu chế xuất Tân Thuận được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1991. Từ đó đến nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước các KCN, KKT ngày càng tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng như một tất yếu khách quan.
 |
|
Sản xuất thức ăn thủy sản tại Xí nghiệp Thức ăn chăn nuôi, Công ty Cổ phần Phân bón và hóa chất Cần Thơ ở Khu Công nghiệp Trà Nóc TP Cần Thơ. Ảnh: KHÁNH TRUNG. |
Tính đến hết tháng 6-2011, cả nước có 260 KCN được thành lập, với tổng diện tích đất tự nhiên là 72.000 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 46.000 ha, chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong số trên, 174 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên trên 43.500 ha và 86 KCN đang trong giai đoạn bồi thường giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích tự nhiên là 28.500ha.
Các KCN được phân bổ trên 57 tỉnh, thành phố trên cả nước, tập trung chủ yếu ở 3 vùng kinh tế trọng điểm. Trong đó vùng kinh tế trọng điểm miền Nam tập trung nhiều KCN nhất với 124 KCN, chiếm gần 48%; vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc có 52 KCN, chiếm 20% và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có 23 KCN, chiếm xấp xỉ 10% tổng số KCN trên cả nước.
Trong 6 tháng đầu năm 2011, có 2 KKT được Thủ tướng Chính phủ đồng ý bổ sung vào Quy hoạch phát triển các KKT ven biển Việt Nam đến năm 2020, đó là KKT Ninh Cơ, tỉnh Nam Định và KKT ven biển Thái Bình, tỉnh Thái Bình, nâng tổng số KKT của cả nước lên 18 KKT, với tổng diện tích mặt đất và mặt nước là 730.553ha. Trong đó, 15 KKT đã được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước hơn 662.000 ha.
Sự phát triển của các KCN, KKT đã và đang đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Trước hết, đây là nơi tập trung và thu hút vốn trong nước và nước ngoài để phát triển công nghiệp. Trong 6 tháng đầu năm 2011, các KCN trên cả nước đã thu hút được 152 dự án, với tổng vốn đăng ký 17.260 tỉ đồng và đang điều chỉnh tăng vốn cho 42 dự án, với tổng vốn tăng thêm 4.600 tỉ đồng, đưa tổng vốn đầu tư trong nước thu hút được đạt hơn 21.860 tỉ đồng. Nếu tính lũy kế thì đến hết tháng 6-2011, các KCN trong cả nước thu hút được 4.456 dự án đầu tư trong nước, với tổng vốn đăng ký gần 360.000 tỉ đồng và tổng vốn dầu tư thực hiện đạt 176.000 tỉ đồng, đạt xấp xỉ 50% tổng vốn đăng ký.
Không chỉ thu hút vốn đầu tư trong nước, KCN, KKT còn là nơi để các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm và đầu tư vào Việt Nam. Trong 6 tháng đầu năm 2011, các KCN của cả nước đã thu hút được 138 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 2.264 triệu USD và điều chỉnh tăng vốn cho 124 lượt dự án với tổng vốn tăng thêm hơn 1.016 triệu USD, đưa tổng vốn đầu tư nước ngoài vào KCN đạt 3.280 triệu USD (tăng 36% so với cùng kỳ năm 2010), chiếm 75% tổng vốn đầu tư nước ngoài của cả nước. Trong đó, vùng Đông Nam Bộ là khu vực dẫn đầu về thu hút đầu tư nước ngoài vào các KCN với tổng vốn đầu tư là 2.210 triệu USD, chiếm hơn 67% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN cả nước.
Từ việc thu hút vốn đó, các KCN, KKT có điều kiện đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước. Cụ thể là, trong 6 tháng đầu năm 2011, mặc dù tình hình kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn do lạm phát và mặt bằng lãi suất cho vay tăng cao, nhưng doanh thu của các KCN vẫn đạt khá, gần 15,5 tỉ USD và 80.000 tỉ đồng. Kim ngạch xuất khẩu đạt 11 tỉ USD, nhập khẩu đạt 9,2 tỉ USD, đóng góp cho ngân sách nhà nước 7.700 tỉ đồng và 55 triệu USD.
Sản xuất kinh doanh của các KKT cũng có bước phát triển với doanh thu đạt hơn 71.105 tỉ đồng và 365 triệu USD (tăng 3,5 lần so với cả năm 2010). Giá trị xuất và nhập khẩu lần lượt là 500 triệu USD và 193 triệu USD, nộp cho ngân sách nhà nước hơn 1.140 tỉ đồng.
Trong tiến trình công nghiệp hóa, KCN, KKT đã tạo thêm được nhiều cơ hội việc làm mới đặc biệt cho lao động dư thừa ở nông thôn. Theo số liệu điều tra, đến cuối tháng 6-2011, các KCN, KKT trên cả nước đã giải quyết việc làm cho hơn 1,6 triệu lao động trực tiếp.
Như vậy, các KCN, KKT ngày càng tỏ rõ vai trò trong việc đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ở nhiều địa phương có KCN, KKT giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ tăng lên đáng kể bởi không chỉ công nghiệp được phát triển mà còn kéo theo các hoạt động dịch vụ phục vụ cho KCN cũng tăng lên. KCN, KKT còn là nơi góp phần đưa những tiến bộ công nghệ, phương thức sản xuất tiên tiến vào Việt Nam, đồng thời giải quyết việc làm và đào tạo nâng cao trình độ tay nghề cho một lực lượng lớn lao động tại chỗ. Thông qua phát triển KCN, KKT mà một hệ thống kết cấu hạ tầng mới hiện đại cũng được hình thành đem lại sự đổi thay lớn cho bộ mặt ở các địa phương.
Một số hạn chế và vấn đề đặt ra
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động các KCN, KKT cũng đang đặt ra nhiều vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường đòi hỏi các nhà quản lý có những biện pháp giải quyết, tháo gỡ kịp thời để tiếp tục phát triển các KCN, KKT.
Trước hết, việc hình thành, phát triển các KCN, KKT trên toàn quốc dẫn tới tình trạng đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp gây nhiều khó khăn cho các địa phương. Theo số liệu điều tra, trong 5 năm (2005 - 2010), việc thu hồi đất để xây dựng các KCN đã tác động đến gần 630.000 hộ dân, với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người bị ảnh hưởng. Bởi vì, lực lượng lao động ở nông thôn chủ yếu là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo nên rất khó đáp ứng được những yêu cầu cao của các KCN, KKT. Chỉ khi những doanh nghiệp tại các khu này chấp nhận đào tạo cho lao động tại địa phương thì số lao động dôi dư do thu hồi đất mới có thể có việc làm. Song điều này chỉ được một số doanh nghiệp chấp nhận, còn lại đa phần người nông dân buộc phải xa nhà đi nơi khác kiếm sống. Cũng chính vì vậy, chủ trương “ly nông bất ly hương” nhằm giảm bớt sự quá tải về dân số do sự chuyển dịch lao động nông thôn ra thành thị ở nhiều nơi trên cả nước khó trở thành hiện thực.
Thứ hai, tuy cả nước đã có tới 260 KCN được thành lập ở tất cả các địa phương nhưng mới chỉ có 46% diện tích đất trong các KCN này được lấp đầy, nghĩa là hiện còn gần 38.000 ha đất đang bị bỏ hoang hay “quy hoạch treo”. Điều này do nhiều nguyên nhân, song có thể kể đến việc thiếu tầm nhìn chiến lược trong quy hoạch phát triển KCN, công tác dự báo và quản lý chưa tốt. Nhiều địa phương xin thành lập KCN nhưng không xuất phát từ nghiên cứu lợi thế của địa phương mình, mà chủ yếu nhằm “xí phần”, hậu quả là nhiều KCN tương tự nhau được thành lập nhưng ở vị trí không cách nhau bao xa, dẫn đến việc các KCN cạnh tranh nhau quyết liệt và có KCN bị bỏ trống.
Cũng có những nguyên nhân khác là kết cấu hạ tầng ở một số KCN còn yếu kém. KCN được xây dựng xa trục đường giao thông, xa thị trường tiêu thụ, thủ tục hành chính rườm rà và việc thiếu lực lượng lao động lành nghề, nhất là lao động chất lượng cao, thiếu công nghiệp hỗ trợ đã dẫn tới doanh nghiệp không đầu tư để sản xuất trong các KCN, KKT, mặc dù nhiều địa phương nhờ được phân cấp mạnh, lại muốn tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh đã ra sức “trải thảm đỏ” để lôi kéo, chào mời các nhà đầu tư.
Thứ ba, cơ cấu đầu tư, cơ cấu ngành nghề công nghiệp ở nhiều KCN còn chưa hợp lý và không phát huy được những lợi thế so sánh của vùng, địa phương. Hàm lượng công nghệ cao, lao động tri thức trong các KCN, KKT còn thấp. Vì vậy, đã có tình trạng trong một KCN mà có cả nhà máy chế biến thức ăn gia súc, nhà máy luyện thép, lắp ráp, chế biến nông sản... Điều này đòi hỏi các cấp quản lý cần phải có sự xem xét kỹ lưỡng về hướng sản xuất của KCN, có tính đến việc nghiên cứu sự liên kết theo chuỗi sản xuất để quyết định cho phép dự án nào sẽ được phê duyệt là hợp lý.
Thứ tư, tình trạng ô nhiễm môi trường do các KCN gây ra cũng đang là vấn đề cần giải quyết. Theo số liệu, mỗi ngày các KCN thải ra 225.000m3 nước thải công nghiệp song chỉ có khoảng 30% của số đó được xử lý và cũng chỉ có 50% số nước được xử lý đó đạt tiêu chuẩn quy định. Không chỉ nước thải công nghiệp, các KCN còn thải ra một lượng chất thải rắn, cũng như khí độc hại lớn gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường dân sinh. Các ngành công nghiệp gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nhiều nhất có thể kể đến là công nghiệp nhiệt điện, sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác khoáng sản. Tuy nhiên, vì chi phí đầu tư để xử lý chất thải nhằm bảo vệ môi trường thường khá lớn và đòi hỏi phải có công nghệ cao nên hầu hết các doanh nghiệp ít quan tâm và điều này sẽ làm các thế hệ mai sau phải trả giá.
Thứ năm, tình trạng tiền lương chưa thỏa đáng, cùng với đó là điều kiện làm việc, nhà ở, đời sống văn hóa, tinh thần cho công nhân còn hết sức nghèo nàn đang trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội. Kết quả khảo sát cho thấy 65,8% số công nhân có nhu cầu nhà ở, nhưng các doanh nghiệp chỉ mới đáp ứng được trên dưới 10%. Chưa địa phương nào định hướng rõ và ban hành cơ chế, chính sách đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân trong các KCN.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN, KKT
Để khắc phục những mặt còn hạn chế hiện nay trong quá trình phát triển các KCN, KKT, cần thực thi đồng bộ nhiều biện pháp. Cụ thể:
- Cần phát triển KCN, KKT theo một quy hoạch thống nhất. Quy hoạch KCN, KKT phải dựa trên các quy hoạch phát triển kinh tế của từng địa phương, vùng và cả nước sao cho bảo đảm có sự gắn kết trên cơ sở nghiên cứu lợi thế từng địa phương, vùng và trên cả nước. Sau khi có quy hoạch, cần tạo thuận lợi cho các KCN, KKT hội tụ được những điều kiện hạ tầng tốt nhất, cũng như xây dựng xung quanh KCN các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ... cho phát triển, chứ không phải đơn thuần chỉ là nơi cung cấp địa điểm cho các doanh nghiệp hoạt động. Nếu tốt hơn, phấn đấu xây dựng được những KCN, KKT (nhất là nơi có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) có tác động lan tỏa chứ không phải ở tình trạng rời rạc, chỉ là nơi gia công xuất khẩu nhằm tranh thủ những ưu đãi về thuế, giá thuê mặt bằng, nhân công rẻ như hiện nay.
- Nghiên cứu và lập quy hoạch phát triển KCN tại những nơi đất đai không có điều kiện phát triển nông nghiệp để tránh tình trạng sử dụng quá nhiều đất nông nghiệp, tạo thế phát triển ổn định, lâu dài, bền vững của toàn nền kinh tế.
- Tăng cường, phát triển tốt kết cấu hạ tầng tại những nơi có KCN, KKT, đồng thời, cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa, tại chỗ” nhằm giảm thiểu tình trạng “xin cho”, tạo mọi điều kiện thuận lợi thông thoáng cho các nhà đầu tư. Từng địa phương cần đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư bằng cách tổ chức các buổi giới thiệu tiềm năng, cơ hội đầu tư tại các KCN, xây dựng và cập nhật những thông tin về cơ chế, chính sách, trên trang thông tin của tỉnh, Ban quản lý KCN, KKT...
- Có những biện pháp triệt để trong việc giải quyết những vấn đề ô nhiễm môi trường do các KCN, KKT gây ra. Quy định các doanh nghiệp phải xây dựng những trạm xử lý nước thải cục bộ đạt tiêu chuẩn, bãi rác thải rắn tập trung... Đồng thời, tăng cường kiểm soát, thanh tra chặt chẽ môi trường tại KCN, KKT, buộc các nhà đầu tư, doanh nghiệp phải áp dụng những biện pháp xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường, đối với những doanh nghiệp cố tình vi phạm phải có biện pháp mạnh như cương quyết bắt tạm ngừng hoạt động hoặc đóng cửa. Khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới thiết bị, công nghệ, thay đổi sản phẩm, tái sử dụng...
- Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực để có thể đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của KCN, KKT. Có như vậy, các địa phương mới giải quyết được việc làm tại chỗ cho lao động của mình. Đây còn là điều kiện cần thiết để buộc các chủ đầu tư phải giải quyết thỏa đáng tiền lương cho công nhân tại các KCN.
- Nhằm cải thiện cuộc sống vật chất và tinh thần cho công nhân trong các KCN, KKT thì mỗi địa phương khi hình thành KCN, KKT phải đồng bộ hóa với phát triển các công trình xã hội (nhà ở, trường học, cơ sở y tế, văn hóa). Giải quyết những khó khăn ban đầu có thể bằng cách hỗ trợ dần dần từ nguồn ngân sách nhà nước, đầu tiên là huy động vốn ứng trước của các doanh nghiệp, sau đó trừ lùi vào các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp; giảm giá cho thuê đất, miễn thuế xây dựng nhà ở cho công nhân...
(Theo Tạp chí Cộng sản chuyên đề cơ sở)