29/03/2016 - 20:20

XÂY DỰNG HẠ TẦNG PHỤC VỤ TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN

Hướng đến ổn định, nâng cao sinh kế cho người dân

Tứ giác Long Xuyên (TGLX) là vùng sản xuất nông nghiệp và cung cấp lương thực quan trọng cho vùng Tây Nam Bộ. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội có nhiều phát sinh về sản xuất, dân sinh, nhiều công trình trong hệ thống không còn phù hợp với yêu cầu sản xuất hiện nay. Do vậy, việc nâng cấp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống hạ tầng cơ sở cho vùng TGLX được xem là cấp bách nhằm hỗ trợ cho tiến trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Cấp bách cho vùng TGLX

 Đê bao chống lũ kết hợp giao thông nông thôn ở xã Nam Thái Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Ảnh: T.LONG

Vùng TGLX với diện tích 490.067 ha, thuộc phần lớn 2 tỉnh An Giang, Kiên Giang và một phần nhỏ thuộc TP Cần Thơ. Hằng năm, nơi đây chịu ảnh hưởng của tình trạng ngập sâu và hạn mặn gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân. Thời gian qua, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật vùng đã phát huy hiệu quả trong việc sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần phát triển kinh tế xã hội cho cả vùng ĐBSCL và cả nước. Đó là các công trình, mở rộng kênh Vĩnh Tế (1978 – 1981) để thoát lũ, làm ngọt hóa và đẩy phèn. Công trình đào hệ thống kênh nối Sông Hậu, kênh Vĩnh Tế với kênh Rạch Giá – Hà Tiên (1981-1984) để đưa nguồn nước lũ giàu phù sa của sông Hậu chảy vào TGLX… Hiệu quả lớn nhất của các công trình này là đưa được nước lũ giàu phù sa để đẩy phèn, bồi đắp và cải tạo môi trường cho toàn vùng TGLX. Ngoài hệ thống các công trình thoát lũ đã kết hợp mở đường giao thông kéo theo dân cư phát triển, xây dựng nền sản xuất nông nghiệp thâm canh 2, 3 vụ/năm. Những cải thiện này của TGLX đã góp phần đáng kể tạo ra bước đột phá phát triển kinh tế ở ĐBSCL những năm qua, góp phần đưa sản lượng lúa tăng từ 4,5 triệu tấn năm 1976 lên gần 25 triệu tấn trong những năm gần đây, vùng ven biển Tây tỉnh Kiên Giang đang trở thành khu vực nuôi trồng thủy sản thâm canh có giá trị kinh tế cao của TGLX và ĐBSCL.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển còn có nhiều phát sinh về sản xuất, dân sinh, nhiều công trình trong hệ thống không còn phù hợp với yêu cầu sản xuất hiện nay. Trong khi đó, vấn đề sử dụng nước, xây dựng các công trình thủy điện ở các quốc gia thượng lưu sông Mekong có thể làm thay đổi dòng chảy, hệ sinh thái môi trường ở hạ lưu; nguy cơ biến đổi khí hậu và nước biển dâng có thể gây nên những thảm họa khó lường. Trước những bất cập, tồn tại và tác động bất lợi nảy sinh trong quá trình vận hành cộng thêm yêu cầu phục vụ khai thác đa mục tiêu đối với hệ thống công trình kiểm soát lũ vùng TGLX, rất cần có một nghiên cứu tổng thể, một cách khoa học để đánh giá toàn diện về năng lực phục vụ, tính hợp lý trong vận hành, làm rõ những ảnh hưởng, tác động của hệ thống công trình này đến các lĩnh vực của đời sống xã hội vùng TGLX, nhằm có được những thông tin đa chiều phản ánh đúng về thực trạng hiệu quả mang lại, những bất lợi đưa đến của hệ thống công trình thủy lợi đã được đầu tư cũng như dự báo được diễn biến lũ lụt, nguy cơ bất lợi đối với sản xuất, an sinh xã hội của người dân trong vùng TGLX để từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp thích ứng nhằm phát huy tốt hiệu quả, công năng, giảm thiểu những tác động xấu của hệ thống công trình đối với sự phát triển bền vững vùng kinh tế quan trọng của đất nước.

Xây dựng hạ tầng để vùng TGLX phát triển

Đối với vùng ĐBSCL, lũ về hằng năm khác với những vùng khác trên cả nước, lũ có cường suất nhỏ (lớn nhất 17 cm/ngày), nhưng khi lũ lớn nước tràn vào các khu vực trũng thấp đã gây ngập và xói lở hoặc vỡ đê bao thấp. Lượng nước này tích tụ phù sa, tái tạo đất. Ngược lại, trong những năm lũ nhỏ, việc tái tạo đất, thau rửa môi trường và vệ sinh đồng ruộng không được làm đồng bộ, dẫn đến sản xuất mùa vụ sau lũ nhỏ thường bấp bênh. Theo tính toán của Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, đến năm 2050, nếu nước biển dâng lên 1m, dự kiến khoảng 39% diện tích của vùng ĐBSCL chịu ảnh hưởng. Dựa trên các kịch bản đưa ra về biến đổi khí hậu và nước biển dâng, ước tính số người dân chịu ảnh hưởng do xâm nhập mặn sẽ tăng từ 39,5% tại thời điểm năm 2012 lên 41,4%; 45,3% và 47,6% tương ứng với các năm 2020, 2030 và 2050. Tương tự, dân số bị ảnh hưởng do ngập lũ cũng tăng lên từ 66,7% năm 2012 lên 71,9%; 74% và 79%. Chẳng hạn, mùa mưa năm 2015 đến muộn và kết thúc sớm nên dòng chảy bị thiếu hụt, xâm nhập mặn đã xuất hiện sớm hơn cùng kỳ gần 2 tháng, tình trạng kéo dài cho đến nay, gây thiệt hại hàng trăm nghìn héc-ta lúa.

Ông Tô Văn Thanh, Phó Viện Trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, cho rằng: "Trước nhu cầu cấp thiết giải quyết những thách thức đang đặt ra tại vùng ĐBSCL, trên cơ sở nguồn lực của quốc gia và khả năng đóng góp của người dân, việc lựa chọn đầu tư tại ĐBSCL phải được cân nhắc theo thứ tự ưu tiên, mang tính tác động vùng, kết hợp hài hòa giữa biện pháp công trình và phi công trình để đáp ứng tiêu chí "ít hối tiếc", góp phần ổn định, bền vững, nâng cao sinh kế cho người dân". Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh thông qua năng suất, chất lượng, gia tăng giá trị sản phẩm, đáp ứng tốt nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, đẩy mạnh xuất khẩu, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ thống nhất chỉ định Viện Khoa học thủy lợi miền Nam làm đơn vị tư vấn, khảo sát xây dựng đề án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp vùng TGLX.

Mục tiêu của đề án nhằm nâng cấp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống hạ tầng cơ sở vùng TGLX phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế - xã hội; nâng cao năng lực phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu; góp phần hiện đại hóa cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới và an ninh quốc phòng với dự toán chi phí tư vấn xây dựng dự trù 7,57 tỉ đồng. Đề án thực hiện tại các tỉnh vùng TGLX với phần lớn diện tích thuộc 2 tỉnh: An Giang, Kiên Giang và một phần thuộc TP Cần Thơ với các công trình hạ tầng thủy lợi, hạ tầng thủy lợi kết hợp giao thông. Theo đó, đề án đánh giá cụ thể về thực trạng và khả năng đáp ứng của kết cấu hạ tầng thủy lợi vào giao thông. Đồng thời, Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam kết hợp với các chuyên gia nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, địa phương để đề xuất những mô hình chuyển đổi phù hợp với điều kiện tự nhiên, nguồn nước và biến đổi khí hậu trong tương lai.

KHÁNH NAM

Chia sẻ bài viết