27/12/2017 - 10:16

Đồng bằng sông Cửu Long

Đầu tư hạ tầng nông nghiệp để phát triển bền vững 

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn nhất của cả nước, với sản lượng gạo đóng góp hằng năm khoảng 90%,  sản lượng trái cây 70% và 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước. Thời gian qua, kinh tế của vùng tăng trưởng khá; cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện, phục vụ tốt cho phát triển sản xuất nông nghiệp… Tuy nhiên, để sản xuất nông nghiệp ĐBSCL phát triển bền vững trong tương lai cũng cần sự đầu tư hơn nữa cho kết cấu hạ tầng...

Nâng cao giá trị sản xuất

Theo Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), 5 năm qua (2012-2017), vùng ĐBSCL có tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 4,26%. Tuy thấp hơn so với mục tiêu quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội đề ra (5,2%/năm), nhưng tốc độ tăng cao hơn 1,42 lần so với mức tăng bình quân cả nước (2,99%/năm). Tốc độ tăng trưởng cao và ổn định  trong 5 năm là nhờ khu vực khai thác triệt để các tiềm năng và lợi thế của vùng như sản xuất lúa, cây ăn quả, phát triển nuôi trồng thủy sản.

Huyện Vĩnh Thạnh (TP Cần Thơ) nạo vét kênh rạch, khai thông dòng chảy, đảm bảo nước ngọt sản xuất lúa. Ảnh: HÀ VĂN

Ở ĐBSCL, lúa là cây trồng có lợi thế được đầu tư phát triển theo hướng thâm canh tăng năng suất, tăng chất lượng, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược an ninh lương thực quốc gia. Đồng thời, hằng năm, vùng ĐBSCL xuất khẩu 5-6 triệu tấn gạo với kim ngạch xuất khẩu, đạt từ 2-3 tỉ USD. Trong 5 năm qua (2012-2017), diện tích gieo trồng lúa trong vùng tăng nhưng không đáng kể (khoảng 25 ngàn ha). Tuy vậy, nhờ sử dụng giống mới, thực hiện "3 giảm, 3 tăng" nên năng suất lúa đã tăng từ 56,8 tạ/ha năm 2012 lên khoảng 59,6 tạ/ha năm 2017. Nhờ đó sản lượng lúa của vùng ĐBSCL đã tăng từ 23,269 triệu tấn năm 2012 lên khoảng 25,7 triệu tấn năm 2017, tăng 10,5% .

Ở TP Cần Thơ, sản xuất lúa cũng đạt hiệu quả đáng kể. Điển hình, năm 2017 sản xuất nông nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn, thách thức do thời tiết không thuận lợi, mưa trái mùa, dịch muỗi hành… ảnh hưởng năng suất, sản lượng vụ đông xuân. Tuy nhiên, Sở NN&PTNT TP Cần Thơ tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ nông dân thực hiện các biện pháp phòng tránh, ứng phó. Nhờ đó, năng suất sản xuất nông nghiệp đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhiều chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra. Tổng diện tích gieo trồng năm 2017 đạt 240.126ha, vượt 11,06% kế hoạch, với sản lượng thu hoạch đạt 1.385.950 tấn, vượt 31,35% kế hoạch và tăng cao so với năm 2016. Trong đó, lúa hè thu  xuống giống 81.059ha, vượt 4,43% kế hoạch, với sản lượng 462.760 tấn, vượt 7,83% kế hoạch. Lúa thu đông xuống giống 73.617,88ha, vượt 39,96% kế hoạch, với sản lượng thu hoạch đạt 366.510 tấn, vượt 43,14% kế hoạch... Ông Nguyễn Ngọc Hè, Giám đốc Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, cho biết: “Kết quả trên nhờ ngành nông nghiệp thành phố triển khai thực hiện “Cánh đồng lớn” một cách đồng bộ, phát triển về quy mô, diện tích, số hộ tham gia. Công tác chỉ đạo phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát thường xuyên và hướng dẫn nông dân biện pháp phòng tránh; công tác khuyến nông, đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa trong sản xuất được quan tâm thực hiện...”.

Đầu tư hạ tầng nông nghiệp

Để sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây lúa đạt năng suất cao, trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến công tác phát triển thủy lợi phục vụ cấp nước, tiêu chua, rửa phèn, kiểm soát lũ, kiểm soát mặn… nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội cho vùng ĐBSCL. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL giai đoạn 2012-2020, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 1397/QĐ-TTg ngày 25-9-2012. Trong đó mục tiêu tổng quát của quy hoạch là tạo ra hệ thống thủy lợi, phục vụ sản xuất nông nghiệp trong tình hình mới, từng bước thích ứng biến đổi khí hậu, nước biển dâng; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững; xác định các chương trình, dự án ưu tiên và kế hoạch thực hiện đến năm 2020 và định hướng đến năm 2050; đề xuất các vấn đề còn tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung quy hoạch, nhất là trong điều kiện sử dụng nước thượng lưu sông Mê Công, tình hình biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Bên cạnh đó cũng cần cải tạo, sửa chữa, nâng cấp các công trình hiện hữu (cống, đê bao, trạm bơm, kênh mương,…); trang bị các trang thiết bị quản lý tiên tiến, hiện đại như trạm đo, quan trắc tự động, hệ thống cảnh báo độ mặn, mực nước biển dâng…

Bộ NN&PTNT đã tiến hành lập quy hoạch chi tiết các tiểu vùng, tỉnh, hệ thống công trình như Nam Bán đảo Cà Mau, hệ thống Nam - Bắc Bến Tre, vùng giữa sông Tiền - sông Hậu, các dự án chống ngập thành phố Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Cà Mau…. Giai đoạn 2011 – 2016, Dự án phát triển thủy lợi ĐBSCL - WB6 với giá trị khoảng 210,342 triệu USD gồm 4 hợp phần: hợp phần 1 hỗ trợ quy hoạch thủy lợi và hiệu quả dùng nước; hợp phần 2 hỗ trợ nâng cấp và khôi phục hạ tầng thủy lợi; hợp phần 3 hỗ trợ cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn; hợp phần 4 hỗ trợ quản lý và thực hiện dự án. Dự án đã được triển khai và đưa vào sử dụng, góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi cho từng vùng. Ngoài việc cung cấp nguồn nước sạch phục vụ sinh hoạt, đảm bảo vệ sinh môi trường, dự án còn tăng cường năng lực giám sát chất lượng nước (đặc biệt là xâm nhập mặn); kiểm soát mặn, giữ ngọt, dẫn ngọt, tiêu úng, tiêu chua, kiểm soát lũ, lấy phù sa đảm bảo  phục vụ cho khoảng 101.800 ha đất tự nhiên, trong đó có khoảng 85.724 ha đất sản xuất nông nghiệp...

Trong số đó hiệu quả nổi trội là Tiểu dự án khép kín tuyến đê, cống vùng Ô Môn - Xà No giai đoạn 1 thuộc địa bàn TP Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và tỉnh Kiên Giang (gồm đầu tư 68 cống hở, 31 cống ngầm, 22km kè chống sạt lở kênh Xà No, nâng cấp 3,73km mặt đê kết hợp đường giao thông nông thôn và xây dựng 7 cầu giao thông nông thôn) với tổng mức đầu tư 600,04 tỉ đồng; cùng với các công trình đã thực hiện thuộc dự án WB2 kiểm soát lũ cho hơn 45 nghìn ha đất tự nhiên, phục vụ tưới tiêu, kiểm soát mặn 38.800ha, cải thiện giao thông thủy, bộ, chống sạt lở bờ kênh và cải thiện môi trường trong vùng dự án, phục vụ sản xuất lúa, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và thế giới.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam, nhận định: Các hệ thống cơ sở hạ tầng trên đã góp phần bảo vệ và phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản người dân vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp ĐBSCL còn thiếu bền vững, không theo quy hoạch, thiếu sự gắn kết giữa nhà nông với nhà doanh nghiệp; một số địa phương còn sản xuất theo hình thức nhỏ lẻ, lạc hậu... Do đó, thời gian tới, vùng ĐBSCL cần quyết liệt triển khai đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời sống người dân nông thôn, đặc biệt hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu, ngăn mặn, đê kè bảo vệ sản xuất; nghiên cứu và sản xuất giống, hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm, hệ thống dịch vụ bảo vệ sản xuất nông nghiệp, ngăn ngừa dịch bệnh... nhằm đảm bảo phát triển sản xuất theo hướng bền vững trong tương lai.

HÀ VĂN

Chia sẻ bài viết