18/03/2016 - 14:23

THÁCH THỨC TỪ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Cơ hội nâng cao thu nhập cho người trồng lúa

Biến đổi khí hậu đang là thách thức lớn cho ngành nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là vùng trồng lúa ĐBSCL. Vì vậy, để bảo đảm an ninh lương thực, một trong những việc cần sớm triển khai là phải tiến hành chương trình nghiên cứu tạo giống lúa thích ứng với điều kiện kiện thời tiết cực đoan. Việt Nam là 1 trong 10 quốc gia tham gia Chương trình nghiên cứu môi trường trồng lúa cho vùng khó khăn (CURE). Đây cũng là cơ hội giúp Việt Nam tăng cường các giải pháp khoa học công nghệ trong trồng lúa cũng như xây dựng chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu thời gian tới.

CURE là chương trình do Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) chủ trì và được thành lập từ năm 2002 với 10 nước thành viên, gồm: Bangladesh, Campuchia, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Myanmar, Nepal, Philippines, Thái Lan và Việt Nam. Các hoạt động của CURE góp phần đảm bảo an ninh lương thực, giảm đói nghèo cho những vùng không đủ điều kiện để phát triển cây lúa, duy trì nguồn lợi tự nhiên từ việc phát triển và phổ biến những kỹ thuật dựa vào lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường ngắn hạn và dài hạn đối với những người nông dân và người tiêu dùng có thu nhập thấp. Mục tiêu của CURE là đảm bảo lương thực cho khoảng 100 triệu hộ nông dân ở châu Á. CURE bao gồm 4 hợp phần nghiên cứu song song tại 10 quốc gia, gồm các hợp phần: môi trường thích hợp cho việc trồng lúa cho vùng khô hạn; môi trường thích hợp cho việc trồng lúa chịu ngập; môi trường thích hợp cho việc trồng lúa chống chịu mặn và môi trường thích hợp cho việc trồng lúa cạn. Trong đó, Việt Nam là 1 trong 9 quốc gia được lựa chọn nghiên cứu môi trường cho việc trồng lúa chịu ngập, cụ thể được nghiên cứu tại ĐBSCL.

Các nhà khoa học cho rằng, nông dân các tỉnh, thành ĐBSCL cũng cần đẩy mạnh chương trình “1 phải,
5 giảm” tăng năng suất, chất lượng và hạn chế sâu bệnh. 

Hợp phần tại Việt Nam triển khai từ năm 2011, các hoạt động của dự án nhằm phát triển các giống lúa có khả năng chống chịu cao với ngập nước; phát triển và sử dụng các vật liệu năng suất cao, chất lượng tốt và chống chịu ngập với các giống, các loài chịu ngập. Dự án tiếp cận thông qua nhiều cách khác nhau, như: thu thập và đánh giá các nguyên liệu bản địa như các giống lúa tiềm năng cho khả năng chịu ngập nước và những đặc điểm thích nghi khác; phương pháp chọn giống truyền thống và hiện đại để phát triển các giống lúa có khả năng chống chịu; trao đổi và đánh giá vật liệu ưu tú với các nước khác thông qua mạng lưới quốc tế về đánh giá di truyền lúa gạo và mạng lưới quốc tế khác để thử nghiệm địa phương và phóng thích. Thời gian qua, có 14 giống lúa đã được thực hiện sau khi kết hợp các giống lúa chịu ngập và lúa chất lượng cao vào các nền tảng di truyền có năng suất cao. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trong điều kiện ngập nước, năng suất cao nhất là các giống OM 138, OM 137 và OM 10252 là 7,5 tấn/ha. Theo đó, 3 giống được chọn cung cấp cho các địa phương, giống OM 10252 đã được cung cấp cho An Giang 300kg, Hậu Giang 500kg; giống OM 137 cung cấp cho Hậu Giang 400kg, Cần Thơ 200kg; giống OM 138 cung cấp An Giang 300kg và Cần Thơ 300kg.

Ngoài ra, dự án đã góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ khoa học có tích hợp song song với các kế hoạch nghiên cứu khác đang tiến hành. Dự án góp phần phát triển một sự hiểu biết có hệ thống về các vấn đề phải đối mặt của người nông dân ở các khu vực mục tiêu. Theo đó, các khóa đào tạo cho nông dân và cán bộ kỹ thuật đã được tiến hành trong giai đoạn từ 2014-2015 với 330 nông dân từ 4 tỉnh, thành phố: An Giang, Cần Thơ, Bạc Liêu và Hậu Giang. Tiến sĩ Yoichiro Kato, chuyên gia của IRRI, chia sẻ: Dự án chủ yếu bước đầu nghiên cứu các giống lúa, đào tạo kỹ thuật cho cán bộ và nông dân. Đây là nền tảng vững chắc để phát triển những dự án, nghiên cứu khác, tiến tới nâng cao thu nhập cho người trồng lúa…

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL, cho biết: "Vùng ĐBSCL đang đối mặt với hiện tượng xâm nhập mặn xảy ra khốc liệt trong vòng 100 năm qua. Thời gian xâm nhập mặn sớm hơn rất nhiều so với những năm trước đây khoảng 2 tháng; chiều sâu xâm nhập mặn vào sâu hơn và độ mặn rất cao. Đây là thách thức rất lớn đối với người trồng lúa vùng ĐBSCL. Bên cạnh xâm nhập mặn, người trồng lúa khu vực ĐBSCL còn đối mặt với nhiều thách thức như: hiệu quả kinh tế thấp; môi trường sản xuất; ngập lụt, hạn hán… Có nhiều quan điểm khác nhau được đặt ra, đó là chúng ta có nên tiếp tục duy trì việc trồng lúa hay chuyển sang cây trồng, vật nuôi khác. Qua khảo sát, nghiên cứu, các chuyên gia cho rằng đối với ĐBSCL chỉ có thể chuyển đổi được một phần vì trồng lúa là kế sinh nhai lớn của người dân, đóng góp vào an ninh lương thực, ổn định kinh tế - xã hội. Để ứng phó với thách thức của biến đổi khí hậu có nhiều giải pháp đề ra, nhưng trong đó quan trọng là giải pháp khoa học công nghệ và nghiên cứu giống cây trồng, vật nuôi thích ứng với điều kiện này". Tại Việt Nam, dự án triển khai hơn 5 năm, trong đó có sự tham gia của Viện lúa ĐBSCL. Đây là cơ hội để người trồng lúa tìm ra giải pháp chung để vượt qua khó khăn trong điều kiện khó khăn này. Theo tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, vấn đề ngập và mặn liên hệ mật thiết và được đề cập trong dự án. Kết quả thực hiện dự án khả quan và đã tìm được 3 giống lúa triển vọng trong điều kiện ngập, mặn. Hy vọng trong thời gian tới, CURE sẽ tiếp tục hợp tác nghiên cứu kỹ thuật sản xuất, nâng cao thu nhập cho người trồng lúa vùng ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói chung.

Bài, ảnh: T. Trinh

Chia sẻ bài viết