04/11/2026 - 06:28

Bia Tiến sĩ - Bảo vật quốc gia, Di sản tư liệu thế giới 

Năm 1484, vua Lê Thánh Tông khởi xướng việc dựng bia tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám để ghi danh những người đỗ đại khoa trong các kỳ thi, bắt đầu từ khoa thi năm 1442.

Trải qua bao biến thiên của lịch sử, 82 tấm bia còn được lưu giữ đến ngày nay là những chứng tích quý báu về truyền thống trọng hiền tài, đề cao đạo học và khát vọng xây dựng đất nước hưng thịnh của cha ông.


Du khách thăm quan khu bia tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Lê Đông/TTXVN

Tôn vinh hiền tài, trọng đạo học

Trong lịch sử dân tộc, việc học và tuyển chọn người tài luôn được các triều đại coi trọng. Từ buổi đầu xây dựng nền tự chủ, các vương triều đã chú trọng mở mang giáo dục, tổ chức khoa cử để tuyển chọn người có tài đức, bổ sung vào hàng ngũ quan lại, góp sức trị nước, giúp dân. Việc dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám dưới triều Lê Thánh Tông là sự tiếp nối truyền thống ấy.

Văn Miếu được xây dựng năm 1070 dưới triều vua Lý Thánh Tông để thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền của Nho học. Sáu năm sau, năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám, mở đầu việc xây dựng trường học dành cho con em hoàng tộc và những người thuộc hàng quan lại. Qua các triều Lý, Trần, Lê, nơi đây từng bước trở thành trung tâm đào tạo Nho học lớn của đất nước, gắn với việc học tập, thi cử và tuyển chọn nhân tài.

Khoa thi Tiến sĩ đầu tiên của triều Lê sơ được tổ chức năm 1442, dưới triều vua Lê Thái Tông. Tuy nhiên, việc dựng bia ghi tên người đỗ đạt chỉ được thực hiện vào năm 1484, dưới triều vua Lê Thánh Tông. Theo ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư, nhà vua cho khắc tên các Tiến sĩ từ khoa thi năm 1442 đến khoa thi năm 1484 lên bia đá, đặt tại Văn Miếu. Từ đó, việc dựng bia đề danh được thực hiện qua các triều đại.

Mỗi tấm bia được dựng lên là sự ghi nhận công lao học tập, đèn sách của các bậc đại khoa, đồng thời là lời răn dạy đối với người làm quan và kẻ sĩ. Người đỗ đạt được khắc tên trên bia không chỉ có vinh dự với bản thân, gia đình, quê hương mà còn mang trọng trách trước triều đình và xã tắc. Bởi vậy, văn bia thường nhắc đến bổn phận của người có học: đem tài năng, tri thức phụng sự đất nước, giữ gìn đạo lý, làm gương cho đời sau.

Tư tưởng ấy được thể hiện rõ ngay trong bài ký trên tấm bia đầu tiên ghi lại khoa thi năm 1442, do Thân Nhân Trung soạn. Câu văn nổi tiếng: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp” đã khái quát sâu sắc quan niệm của tiền nhân về vai trò của người hiền tài đối với sự hưng thịnh của đất nước. Bài ký còn nêu rõ việc dựng bia nhằm làm sáng tỏ đạo trị nước, khuyến khích người tài và lưu danh những người có công với triều đình, xã tắc.


Nữ sinh thành kính trước khu bia Tiến sĩ, gửi gắm mong muốn học hành thuận lợi, thi cử suôn sẻ. Ảnh: Phạm Tuấn Anh/TTXVN

Không chỉ thể hiện ở tấm bia đầu tiên, qua các bài ký được khắc trên bia, các triều đại nhiều lần nhấn mạnh mối quan hệ giữa việc học, việc tuyển chọn người tài và sự thịnh suy của quốc gia. Người có học phải được đào luyện, thử thách qua khoa cử; khi đã đỗ đạt, phải đem sở học giúp đời, phụng sự triều đình. Việc khắc tên người đỗ Tiến sĩ lên đá vì thế vừa là sự tôn vinh, vừa gửi gắm kỳ vọng của triều đình đối với tầng lớp trí thức.

Những trang sử đá của nền khoa cử Việt Nam

82 tấm bia đề danh Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám được dựng trong khoảng thời gian từ năm 1484 đến năm 1780. Tấm bia có niên đại sớm nhất được dựng năm 1484, ghi lại khoa thi mở đầu là năm Đại Bảo thứ 3 (năm 1442); tấm bia có niên đại muộn nhất, được dựng vào năm 1780, ghi về khoa thi năm Cảnh Hưng thứ 40 (năm 1779).

Theo Bách khoa thư Hà Nội (Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin), bia đá thường được dựng vào năm sau của khoa thi nhưng có nhiều khoa thi không dựng được ngay, nên vào năm 1653 dựng liền một lúc 25 bia cho các khoa thi trước đó. Năm 1717, cũng dựng 21 bia cho 21 khoa thi. Tuy nhiên, nếu so với số khoa thi được tổ chức thì số lượng bia còn thiếu nhiều. Song có thể là do chưa có điều kiện dựng, hoặc bị mất, hỏng nên hiện nay chỉ còn lưu lại 82 bia.

Trên mỗi tấm bia có khắc một bài ký bằng chữ Hán, do các bậc đại danh nho, có học vấn uyên thâm và uy tín trong triều đình biên soạn. Nội dung các bài ký đề cập đến ý nghĩa của việc mở khoa thi, tuyển chọn nhân tài, đề cao đạo học và trách nhiệm của người đỗ đạt đối với đất nước. Qua từng bài ký, quan niệm về việc học, việc dùng người và phép trị nước của các triều đại được thể hiện rõ nét. Nhiều triết lý về dựng nước, giữ nước, bảo tồn văn hóa, phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài của các triều đại đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị.

Bên cạnh bài ký, bia còn ghi lại năm tổ chức khoa thi, tên các vị quan đảm trách việc thi, họ tên và quê quán của những người đỗ Tiến sĩ. Tập hợp các bài ký và danh sách đề danh trên 82 tấm bia hiện còn là nguồn sử liệu quý, phản ánh lịch sử khoa cử, giáo dục và đời sống chính trị, văn hóa của nước ta qua hơn ba thế kỷ, từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Qua đó, hậu thế có thể tìm hiểu thể lệ thi cử, việc tuyển chọn và trọng dụng nhân tài cũng như quan niệm của các triều đại về đạo học và trách nhiệm của kẻ sĩ.

Những tên tuổi được lưu lại trên bia cũng góp phần làm sáng tỏ thân thế, sự nghiệp của nhiều danh nhân trong lịch sử dân tộc. Trong số đó có nhà sử học Ngô Sĩ Liên, đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất năm 1442, người có công biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư; nhà bác học Lê Quý Đôn, đỗ Tiến sĩ năm 1752, tác giả của nhiều công trình khảo cứu có giá trị; nhà chính trị, ngoại giao Ngô Thì Nhậm, đỗ Tiến sĩ khoa Ất Mùi năm 1775, sau này có nhiều đóng góp dưới triều Tây Sơn…

Giá trị của bia Tiến sĩ còn thể hiện ở nghệ thuật tạo tác và thư pháp. Mỗi tấm bia được làm bằng đá, đặt trên lưng rùa, phần trán và diềm bia được chạm khắc hoa văn, linh vật với những đường nét mang đặc trưng mỹ thuật của từng thời kỳ. Chữ Hán trên bia được khắc công phu, thể hiện trình độ thư pháp và kỹ thuật chế tác của những người thợ xưa. Qua hình thức, hoa văn và nét chữ, các nhà nghiên cứu có thêm căn cứ tìm hiểu sự phát triển của nghệ thuật điêu khắc đá, mỹ thuật và thư pháp Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII.


Tổng thống Cộng hòa Panama José Raúl Mulino và Phu nhân nghe giới thiệu về bia tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, sáng 6/10/2026, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Sự kết hợp giữa văn chương, sử liệu và nghệ thuật điêu khắc đã tạo nên giá trị riêng có của những tấm bia đề danh Tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa, giáo dục và nghệ thuật ấy, bia Tiến sĩ đã được ghi danh vào các danh mục di sản tư liệu của UNESCO. Năm 2010, 82 bia Tiến sĩ được ghi danh là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á-Thái Bình Dương; năm 2011, được ghi danh vào Danh mục Di sản tư liệu thế giới. Tháng 1/2015, 82 bia Tiến sĩ được công nhận là Bảo vật quốc gia. Những sự ghi nhận này khẳng định giá trị đặc sắc của di sản, đồng thời cho thấy ý nghĩa của bia Tiến sĩ vượt ra ngoài phạm vi quốc gia, vươn tầm quốc tế.

Những tấm bia Tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám là một phần di sản quý báu của nền văn hiến Việt Nam. Qua bao thế kỷ, tư tưởng coi trọng việc học, coi trọng người tài được gửi gắm trong di sản ấy vẫn mang ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống dân tộc. Việc bảo tồn những tấm bia không chỉ thể hiện sự trân trọng đối với di sản của tiền nhân, mà còn góp phần gìn giữ và nối tiếp truyền thống hiếu học, trọng dụng nhân tài đã được hun đúc trong lịch sử đất nước.

Minh Hiếu/TTXVN

Chia sẻ bài viết

Link gốc: https://baotintuc.vn/bia-tien-si-bao-vat-quoc-gia-di-san-tu-lieu-the-gioi-pos...