09/08/2026 - 12:49

Xây dựng hành lang pháp lý để tháo gỡ điểm nghẽn, đưa công nghiệp văn hóa phát triển 

Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ là công cụ quan trọng để thể chế hóa Nghị quyết số 80, tháo gỡ những điểm nghẽn kéo dài, hình thành hệ sinh thái sáng tạo.

Giao lưu và trình diễn hát Xẩm tại không gian văn hóa sáng tạo CADAO Collective. (Ảnh: TTXVN phát)

Việc xây dựng Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý đồng bộ, chuyển hóa tài nguyên văn hóa, năng lực sáng tạo và tài sản trí tuệ thành sức mạnh kinh tế.

Khi được hoàn thiện và ban hành, Luật sẽ là công cụ quan trọng để thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, tháo gỡ những điểm nghẽn kéo dài, hình thành hệ sinh thái sáng tạo và đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.

Yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và cơ quan liên quan xây dựng Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa. Dự thảo 1.0 đang được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi từ ngày 5 đến hết ngày 24/8/2026. Dự thảo gồm 9 chương, 60 điều, áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động công nghiệp văn hóa tại Việt Nam.

Việc xây dựng một đạo luật riêng về phát triển công nghiệp văn hóa xuất phát từ đòi hỏi ngày càng rõ của thực tiễn. Việt Nam có kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, hệ thống di tích, danh lam thắng cảnh, làng nghề truyền thống đa dạng; có đội ngũ văn nghệ sỹ, trí thức và lực lượng sáng tạo trẻ năng động; có thị trường gần 100 triệu dân, cùng tốc độ phổ cập internet, thiết bị di động và nền tảng số ở mức cao. Đây là nguồn “nguyên liệu” đặc biệt cho điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, xuất bản, trò chơi điện tử, quảng cáo, thiết kế, thời trang, thủ công mỹ nghệ và du lịch văn hóa.

Những năm gần đây, nhiều sản phẩm văn hóa, chương trình nghệ thuật, bộ phim, trò chơi điện tử, sản phẩm thiết kế và nội dung số của Việt Nam đã tạo hiệu ứng xã hội, từng bước tiếp cận thị trường quốc tế. Khu vực tư nhân tham gia ngày càng mạnh; các không gian sáng tạo, tổ hợp văn hóa-giải trí và nền tảng phân phối số dần hình thành. Nhu cầu tiêu dùng, thưởng thức sản phẩm văn hóa có chất lượng của người dân cũng liên tục gia tăng… tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP Việt Nam cả giai đoạn 2018-2025 ước đạt 4-5%, còn khoảng cách rất xa so với mục tiêu đặt ra đến năm 2030 là tối thiểu 7%, khó có thể bứt phá nếu không có một “cú huých” về mặt chính sách kiến tạo của Nhà nước.

Mặc dù có nguồn lực và tiềm năng to lớn, nhưng thực tiễn phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam thời gian qua vẫn gặp nhiều khó khăn, chưa tương xứng với tiềm năng.

Pháp luật về văn hóa còn thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chủ yếu tiếp cận công nghiệp văn hóa dưới góc độ quản lý nhà nước đơn thuần về nội dung, thiếu các chính sách mang tính kiến tạo để thúc đẩy phát triển kinh tế, chưa coi đây là một lĩnh vực kinh tế năng động có khả năng đóng góp lớn vào GDP và giải quyết việc làm.

Quy định pháp luật hiện hành còn phân tán trong các luật chuyên ngành như điện ảnh, sở hữu trí tuệ, du lịch, quảng cáo, xuất bản, thậm chí còn nằm ở các văn bản dưới luật, do lĩnh vực đó chưa được điều chỉnh bằng luật như văn học, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm...

Có thể thấy quy định pháp luật đã có nhưng thiếu một luật mang tính tổng thể, kết nối từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến tiêu dùng các sản phẩm văn hóa. Sự thiếu vắng này tạo ra những “khoảng trống,” “điểm mờ,” “điểm nghẽn” về mặt pháp lý.

Hiện đang thiếu một văn bản luật đưa ra chính sách từ góc nhìn giá trị kinh tế để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa bằng cách kết nối liên ngành: Văn hóa với sáng tạo, sáng tạo với quyền; quyền với vốn; vốn với sản xuất; sản xuất với phân phối; phân phối với doanh thu; doanh thu với tái đầu tư và xuất khẩu.

Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự bùng nổ của các nền tảng số xuyên biên giới, hệ thống pháp luật hiện hành bộc lộ rõ sự lạc hậu trong việc quản lý, điều tiết nội dung số và bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian mạng.

Thiếu hành lang pháp lý đủ mạnh để bảo vệ các nhà sản xuất nội dung trong nước trước sự cạnh tranh từ nước ngoài, đồng thời định hướng phát triển các nền tảng phân phối nội dung số nội địa.

(Ảnh: Tiến Long/TTXVN phát)

Sự xâm nhập mạnh mẽ của các sản phẩm văn hóa ngoại lai với lợi thế vượt trội về công nghệ và tài chính đang tạo ra sức ép cạnh tranh khốc liệt, tiềm ẩn nguy cơ xói mòn bản sắc, gây “xâm lăng văn hóa” nếu không có một khung khổ pháp lý đủ sức “kiến tạo” và “bảo vệ.”

Vì thế, việc ban hành Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa là đòi hỏi cấp bách, nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Luật được xây dựng với sứ mệnh là một “Luật kiến tạo”: Vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn,” làm rõ các “điểm mờ” vừa bổ sung quy định lấp đầy các “khoảng trống” pháp lý để khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, gia tăng hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm, dịch vụ, bảo vệ thị trường nội địa và tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng bứt phá của đất nước.

“Cú huých” để khơi thông nguồn lực

Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa tập trung vào sáu trụ cột chính gồm: hệ sinh thái sáng tạo, tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực, hạ tầng, thị trường và nguồn lực tài chính để phát triển công nghiệp văn hóa. Các chính sách được thiết kế theo hướng liên kết thành chuỗi, từ sáng tạo, sản xuất đến phân phối, tiêu dùng và tái đầu tư, lấy người sáng tạo, doanh nghiệp và tài sản trí tuệ làm trung tâm.

Trong đó, chính sách về hệ sinh thái công nghiệp văn hóa hướng tới kết nối người sáng tạo, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, quỹ đầu tư, hiệp hội nghề nghiệp và cơ quan quản lý. Nhà nước hỗ trợ chia sẻ dữ liệu, đào tạo kỹ năng, chuyển đổi số, cung cấp công cụ sáng tạo và thử nghiệm có kiểm soát đối với những công nghệ, sản phẩm, mô hình kinh doanh mới.

Đối với tài sản trí tuệ, dự thảo đề xuất định danh, số hóa và lập hồ sơ để phục vụ bảo hộ, định giá, giao dịch và thương mại hóa. Tài sản trí tuệ có thể được sử dụng để góp vốn, chuyển nhượng hoặc bảo đảm vay vốn, qua đó biến kết quả sáng tạo thành nguồn lực kinh tế.

Chính sách nhân lực tập trung xây dựng khung năng lực, đổi mới đào tạo theo hướng liên ngành, gắn nghệ thuật với công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Người có năng khiếu, nghệ sỹ, nghệ nhân và nhân lực chất lượng cao được tạo điều kiện học tập, giảng dạy, nghiên cứu và hưởng cơ chế đãi ngộ phù hợp.

Về hạ tầng, dự thảo hướng tới phát triển công trình văn hóa, không gian sáng tạo, tổ hợp, cụm và khu công nghiệp sáng tạo; đồng thời xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia và các nền tảng số dùng chung. Nguồn lực đầu tư được huy động từ Nhà nước, doanh nghiệp và hình thức hợp tác công tư.

Chính sách thị trường chú trọng phát triển sản phẩm giàu bản sắc Việt Nam, tài sản trí tuệ gốc và sản phẩm trọng điểm; hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, phát triển sàn giao dịch và mở rộng xuất khẩu. Thẻ văn hóa quốc gia cũng được đề xuất nhằm kích thích tiêu dùng và hỗ trợ người dân tiếp cận sản phẩm văn hóa Việt Nam.

Chính sách tài chính và đầu tư đề xuất cơ chế đồng đầu tư, chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước với khu vực tư nhân; áp dụng ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng và hải quan đối với hạ tầng, doanh nghiệp, startup và cá nhân sáng tạo. Nhà đầu tư chiến lược nước ngoài được thu hút có chọn lọc, gắn với chuyển giao công nghệ và phát triển tài sản trí tuệ Việt Nam.

Các chính sách được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý đồng bộ, khơi thông nguồn lực xã hội, đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới và góp phần nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.

Trao đổi về dự án Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa đang được lấy ý kiến rộng rãi và chuẩn bị trình Quốc hội xem xét, Nghệ sỹ Nhân dân Vương Duy Biên, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam, cho rằng việc xây dựng một đạo luật riêng về công nghiệp văn hóa là rất cần thiết. Nghị quyết 80 đã dành nhiều nội dung cho lĩnh vực này; vì vậy, khi có luật, nhận thức xã hội sẽ rõ ràng hơn, khái niệm công nghiệp văn hóa, các chủ thể tham gia và nguồn lực dành cho phát triển công nghiệp văn hóa cũng được xác định cụ thể hơn.

Theo Nghệ sỹ Nhân dân Vương Duy Biên, bộ Luật ra đời sẽ tạo khuôn khổ pháp lý và định hướng chung để cả nước, toàn xã hội, nhất là các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân, có thể nhìn nhận đầy đủ hơn về công nghiệp văn hóa, từ đó thuận lợi hơn khi tham gia phát triển lĩnh vực này.

Nghệ sỹ Nhân dân Vương Duy Biên đánh giá dự thảo được xây dựng trong thời gian tương đối ngắn nhưng đã cho thấy sự chuẩn bị công phu và nỗ lực lớn của cơ quan soạn thảo. Tất nhiên, dự thảo vẫn cần tiếp tục được lấy ý kiến, đóng góp và hoàn thiện để có thể sớm trình Quốc hội xem xét, thông qua.

Tuy nhiên, Nghệ sỹ Nhân dân Vương Duy Biên cũng lưu ý quá trình xây dựng luật cần khẩn trương nhưng không nên quá vội vàng. Cần tập hợp được nhiều ý kiến đóng góp để các quy định sát với thực tế và để luật có sức sống lâu dài.

Thực tế cho thấy có những luật dù được chuẩn bị cẩn thận nhưng vừa ban hành đã phải sửa đổi do chưa bám sát thực tiễn. Muốn luật thực sự đi vào cuộc sống thì ngay từ quá trình xây dựng, các quy định phải xuất phát từ thực tiễn. Vì vậy, càng tiếp nhận được nhiều ý kiến xác đáng, dự thảo luật càng có cơ sở để hoàn thiện, bảo đảm tính khả thi, phù hợp hơn với yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa và có sức sống lâu dài.

Các chuyên gia cho rằng việc lấy ý kiến rộng rãi không chỉ là một bước trong quy trình xây dựng pháp luật, mà còn là cơ hội để kết nối trí tuệ của cơ quan quản lý, chuyên gia, văn nghệ sĩ, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cộng đồng sáng tạo. Mỗi góp ý sát thực tiễn sẽ giúp dự thảo nhận diện đúng điểm nghẽn, cân bằng giữa khuyến khích và kiểm soát, giữa phát triển thị trường và bảo vệ giá trị văn hóa.

Theo dự kiến, Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa sẽ được trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI vào tháng 10/2026.

Khi được xây dựng thận trọng trên cơ sở khoa học và thực tiễn, Luật được hoàn thiện và ban hành sẽ tạo một hành lang pháp lý thông thoáng, đồng bộ để khơi thông nguồn lực, tạo thêm cơ hội cho người sáng tạo, củng cố niềm tin của doanh nghiệp, đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới, đưa những giá trị văn hóa Việt Nam đi xa hơn trong kỷ nguyên mới, góp phần nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.

Theo Phương Lan (TTXVN/Vietnam+)

Chia sẻ bài viết