01/06/2016 - 21:09

Gia tăng hiện trạng xâm nhập mặn ở ĐBSCL

Tìm giải pháp thích ứng!

Nước biển dâng cao làm quá trình xâm nhập mặn tại vùng cửa sông thuộc dải ven biển ĐBSCL diễn biến phức tạp và càng lấn sâu vào trong đất liền. Mùa khô năm 2015-2016, nhiều địa phương thuộc vùng ĐBSCL chịu ảnh hưởng nặng nề của hạn hán và xâm nhập mặn mang tính lịch sử trong vòng 100 năm qua... Điều này đã và đang đòi hỏi cần có giải pháp thích ứng với tình trạng xâm nhập mặn nói riêng và biến đổi khí hậu (BĐKH) nói chung cho vùng ĐBSCL.

Không gian trữ nước giảm đáng kể

BĐKH mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng là một trong những thách thức lớn và là một nguy cơ nghiêm trọng có tính chất toàn cầu. ĐBSCL là vùng đất ngập nước lớn nhất Việt Nam, có tính đa dạng sinh học cao. Đây là vùng có địa thế bằng phẳng và rất thấp so với mức nước biển (cao độ trong khoảng 0-4m) và là một trong các vùng rất nhạy cảm với sự thay đổi của các yếu tố thời tiết cực đoan và khí hậu thay đổi. Vì vậy, quá trình xâm nhập mặn do BĐKH đã và đang tác động rất lớn đến vùng ĐBSCL.

PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu BĐKH, Trường Đại học Cần Thơ, cho biết: Ở ĐBSCL có 2 vùng trữ nước lớn là tứ giác Long Xuyên và vùng Đồng Tháp Mười. Vào mùa lũ, nơi đây giữ nước lũ và mùa khô, nước trong 2 túi này chảy ra và cung cấp nước cho vùng ven biển. Thời gian qua, do chúng ta tập trung gia tăng sản lượng lúa, xây dựng nhiều hệ thống đê bao ở vùng tứ giác Long Xuyên và cả vùng Đồng Tháp Mười khiến không gian trữ nước giảm đi rất nhiều. Đây cũng là nguyên nhân khiến mùa khô trở nên khô hạn nặng nề hơn. Và ngay trong mùa lũ, khi nước lũ về, vùng dưới ĐBSCL chịu ảnh hưởng nặng nề hơn. Đây cũng là cách lý giải vì sao những năm gần đây TP Cần Thơ, Vĩnh Long... thường bị ngập nghiêm trọng và kéo dài hơn vào mùa lũ. "Trong lịch sử, có những năm nguồn nước sông Mekong thấp nhất đổ về ĐBSCL khoảng 1.500m3/s. Nhưng, xâm nhập mặn lúc bấy giờ không quá 60-65km. Năm nay, mực nước sông Mekong đổ về ĐBSCL thấp nhất 2.600m3/s nhưng xâm nhập mặn lên đến 70-75km. Điều này có nghĩa chúng ta đã mất không gian trữ nước ở vùng tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười để đẩy nước mặn ra biển… Chúng ta vừa là nạn nhân và cũng vừa thủ phạm của những thiệt hại do hạn hán, xâm nhập mặn" - PGS.TS Lê Anh Tuấn nói.

     Nhiều diện tích lúa đông xuân 2015-2016 ở vùng ĐBSCL bị thiệt hại nặng do xâm nhập mặn trong mùa khô 2015-2016. 

Theo Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mỹ Linh, Phó trưởng Bộ môn Môi trường, Khoa Kỹ thuật Công nghệ - Môi trường, Trường Cao đẳng Cần Thơ, kết quả của nhiều nghiên cứu xâm nhập mặn vùng ĐBSCL từ 1980 đến nay cho thấy, chiều dài xâm nhập mặn vào cửa sông phụ thuộc chặt chẽ bởi 6 yếu tố. Đó là: dòng chảy kiệt từ thượng nguồn sông Mekong; khả năng trữ nước cuối mùa lũ của vùng ĐBSCL; diễn biến mực nước ven biển; tình trạng sử dụng nước ở ĐBSCL; hình dạng lòng sông vùng cửa; diễn biến mưa đầu mùa mưa. Trong đó, "theo tài liệu đo đạc tại Tân Châu và Châu Đốc - 2 trạm cơ bản trên sông Tiền và sông Hậu tại vị trí sông Mekong vào Việt Nam, từ 1990 đến nay cho thấy, do tác động của hệ thống hồ chứa thủy điện trên dòng chính và dòng nhánh thượng lưu Mekong, dòng chảy kiệt có xu thế tăng so với trước đây khoảng 10-20%... Khả năng trữ nước cuối mùa lũ là lượng nước lũ được các vùng ngập lũ chính của ĐBSCL là Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên giữ lại vào cuối lũ, vào tháng 11, 12 hằng năm. Lượng trữ này phụ thuộc vào tình trạng lũ trong năm, đặc biệt là độ lớn của lũ và thời gian xuất hiện sớm hay muộn. Tổng lượng lũ vào ĐBSCL từ 380-420 tỉ m3 và kéo dài đến tháng 11, 12 như trước đây nay chỉ còn khoảng 300-320 tỉ m3 và hầu như kết thúc vào tháng 11. Thêm vào đó, gần 50% vùng ngập trung bình và 30% vùng ngập sâu đã được các địa phương tiến hành kiểm soát lũ để sản xuất vụ thu đông, khiến khả năng trữ lũ của toàn ĐBSCL giảm chỉ còn hơn một nửa so với trước đây (từ 5-7 tỉ m3 xuống 3-4 tỉ m3)… Qua tổng hợp các nguyên nhân, mặn có xu thế ngày càng xâm nhập sâu và gây hậu quả nặng nề hơn là điều dễ hiểu" - Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mỹ Linh dẫn chứng và kết luận.

Giải pháp quản lý thích ứng

PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu BĐKH, Trường Đại học Cần Thơ, cho rằng: Triển khai song song giải pháp phi công trình và công trình. Đối với giải pháp phi công trình: Từng bước khôi phục các vùng chứa nước tự nhiên của đồng bằng; giảm bớt diện tích canh tác lúa, tăng các cây trồng ít tiêu thụ nước. Phát triển các mô hình canh tác kết hợp sinh thái, như: lúa – tôm cho các vùng nước lợ, rừng- tôm cho các vùng nước mặn. Ứng dụng kỹ thuật tưới nước tiết kiệm, chống bốc hơi; nâng cao nhận thức của người dân về tài nguyên nước. Đặc biệt, tăng cường các giải pháp "ngoại giao nước" trong vấn đề nước xuyên biên giới. Đối với giải pháp công trình, cần lưu ý giải pháp "không hối tiếc", tránh đầu tư quy mô công trình lớn, thiếu hiệu quả. Thay vào đó, khuyến khích các công trình nhỏ, cơ động, dễ vận hành (trạm bơm di động, cống đập thời vụ, thường xuyên nạo vét kênh mương, ao hồ…). Điều chỉnh thiết kế các hệ thống thủy lợi lớn theo hướng đa mục tiêu…; tăng cường hệ thống quan trắc và cảnh báo sớm thiên tai và thời tiết bất thường.

Theo Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mỹ Linh, Phó trưởng Bộ môn Môi trường, Khoa Kỹ thuật Công nghệ - Môi trường, Trường Cao đẳng Cần Thơ, với những vùng đất cạn kiệt nguồn nước, việc đầu tư xây dựng những hệ thống dẫn nước cấp sinh hoạt cho người dân là biện pháp hàng đầu. Cần nghiên cứu những hệ thống lọc nước đơn giản, gọn nhẹ để có thể lọc được nước nhiễm mặn thành nước ngọt hoặc hạn chế độ mặn ở mức cho phép. Đây là biện pháp cần được quan tâm khi đa số người dân đang phải bất lực trước nguồn nước mặn không thể sử dụng. Trước những dự báo nguy cơ hạn, xâm nhập mặn sẽ ngày càng diễn biến phức tạp và có nhiều khả năng khốc liệt hơn, thì chuyển đổi hình thức lao động cũng là một trong những giải pháp cần được tính đến. Có thể chuyển đổi sang các hình thức sản xuất phi nông nghiệp như làm các sản phẩm nghề thủ công để tranh thủ thời gian nhàn rỗi khi cánh đồng tạm thời chưa sản xuất nhằm tạo thêm thu nhập cho người nông dân. Bên cạnh đó, với người dân, tình hình diễn biến của xâm nhập mặn đang và sẽ tiếp tục diễn ra gay gắt trong thời gian tới nên việc chủ động ứng phó là điều cần thiết. Trong đó, cần có những khuyến cáo để người dân có thể thực hiện các biện pháp tích trữ nước vào mùa mưa hoặc chủ động đắp các đập tạm, bờ bao cục bộ… nhằm ngăn mặn, trữ ngọt, chủ động được phần nào nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt của gia đình.

Bài, ảnh: H.TRIỀU

Chia sẻ bài viết