26/10/2016 - 20:48

Đồng bằng sông Cửu Long

Thúc đẩy khoa học và công nghệ phát triển

Theo nhận định của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), giai đoạn 2014-2016, hoạt động KH&CN các địa phương vùng ĐBSCL có những đóng góp quan trọng trên tất cả các lĩnh vực an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt là trước tình hình biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng gay gắt, trong đó nổi lên là hạn hán, xâm nhập mặn, ngành KH&CN vùng ĐBSCL đối mặt với nhiều khó khăn cần trợ lực để phát triển, khẳng định vai trò là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương.

* Kết quả nổi bật

TP Cần Thơ có 72 tổ chức hoạt động KH&CN, bao gồm: 5 trường đại học, Viện Lúa ĐBSCL, các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển khoa học công nghệ, các trung tâm, các cơ quan quản lý... Các tổ chức KH&CN này tập trung vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học nông nghiệp, khoa học xã hội, khoa học y dược… Để quản lý nhà nước về KH&CN, thời gian qua, Sở KH&CN TP Cần Thơ đã tích cực tham mưu cho UBND thành phố triển khai các cơ chế, chính sách của Trung ương và địa phương đối với hoạt động KH&CN, ban hành kịp thời các quy định quản lý KH&CN tại địa phương tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN. Các nhiệm vụ KH&CN trong thời gian qua phù hợp với định hướng phát triển của thành phố. Nhiều kết quả đề tài, dự án mang tính ứng dụng cao được triển khai ứng dụng ngay sau khi nghiệm thu. Điển hình như: Nghiên cứu ứng dụng KH&CN góp phần xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao trong xây dựng sản xuất vùng lúa hàng hóa theo quy trình VietGAP; xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ sinh thái cho 3 vụ lúa tại 3 huyện (Cờ Đỏ, Thới Lai và Phong Điền) vừa mang lại hiệu quả về mặt kinh tế, vừa góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Đại biểu tìm hiểu sản phẩm KH&CN trưng bày nhân Hội nghị giao ban KH&CN vùng ĐBSCL lần thứ XXIV năm 2016 tại An Giang.

Không riêng gì TP Cần Thơ, hoạt động KH&CN của các tỉnh vùng ĐBSCL cũng đạt được nhiều kết quả nổi bật. Đáng chú ý là có nhiều mô hình mới trong phát triển kinh tế bước đầu được hình thành như mô hình "cánh đồng lớn sản xuất lúa gạo chất lượng cao", "nuôi tôm siêu thâm canh", "sản xuất cây ăn trái đặc sản, chất lượng cao", "cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp"… Ông Nguyễn Hồng Hà, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển KH&CN địa phương, Bộ KH&CN, nhận định: Vai trò, vị trí KH&CN của vùng ĐBSCL đã được khẳng định. Nhiều nội dung của ngành đã được đưa vào Nghị quyết của Đảng, của HĐND thành phố, tỉnh. Các Sở KH&CN trong vùng đã tích cực tham mưu, cụ thể hóa để địa phương ban hành khá đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật về chủ trương, chính sách phát triển KH&CN phù hợp với tình hình thực tiễn hoạt động của các địa phương. Hình thành được các chương trình KH&CN theo lĩnh vực để có sự ưu tiên. Các nhiệm vụ KH&CN đã bám sát nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có địa chỉ ứng dụng cụ thể, thậm chí thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu. Bước đầu xác định các sản phẩm ưu tiên, mũi nhọn, có tiềm năng để đầu tư nghiên cứu. Hoạt động nghiên cứu, triển khai đã đóng góp tích cực cho sự tăng trưởng các ngành kinh tế của các địa phương, có tác động to lớn trong phát triển các ngành sản xuất, đạt được nhiều thành tựu trên một số lĩnh vực như: nông nghiệp (lúa gạo, cây ăn trái, thủy sản), công nghiệp, dịch vụ, y tế…

*Nhiều tồn tại cần giải quyết

Đạt được nhiều kết quả nổi bật, nhưng hoạt động KH&CN của các địa phương trong vùng ĐBSCL vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế. Theo Sở KH&CN tỉnh An Giang, hạ tầng KH&CN của đa số địa phương còn thiếu, hiệu quả còn hạn chế. Đến nay, vẫn chưa có chính sách đủ mạnh để vừa khuyến khích, vừa đòi hỏi doanh nghiệp đổi mới công nghệ; đầu tư nhà nước cho KH&CN còn thấp và dàn trải. Hiệu quả thực tế của một số đề tài, chương trình, mô hình nghiên cứu KH&CN còn nhiều hạn chế. Đáng chú ý có nhiều đề tài không được ứng dụng vào thực tiễn… Bên cạnh đó, việc đào tạo, thu hút nguồn nhân lực KH&CN trong thời gian qua chưa đáp ứng được vai trò then chốt trong phát triển tiềm lực KH&CN, xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức của các địa phương.

Muốn giải quyết vấn đề chậm phát triển của thị trường KH&CN hiện nay, cần đầu tư phát triển, nâng cao năng lực hoạt động và chủ động thành lập doanh nghiệp KH&CN. Nhưng, việc làm này vẫn còn nhiều vướng mắc. Ông Nguyễn Xuân Niệm, Phó Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Kiên Giang, dẫn chứng: Các doanh nghiệp muốn được mang tên "doanh nghiệp KH&CN" phải xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh; phải chứng minh việc sử dụng hoặc sở hữu hợp pháp các kết quả KH&CN. Doanh nghiệp cũng phải giải trình quá trình ươm tạo và làm chủ công nghệ từ các kết quả KH&CN và các điều kiện đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh. Doanh nghiệp phải khai báo chi tiết về công nghệ, mô tả sáng kiến của doanh nghiệp nên rất dễ bị mất thông tin, bí quyết quy trình công nghệ; trong khi đầu tư cho hoạt động nghiên cứu luôn chứa đựng rủi ro và thủ tục đăng ký còn nhiều khó khăn. Hoạt động trao đổi, mua bán công nghệ và lưu thông kết quả nghiên cứu KH&CN bị hạn chế do thiếu các tổ chức trung gian, các quy định pháp lý cần thiết, nhất là hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Ông Nguyễn Việt Thanh,
Thứ trưởng Bộ KH&CN:
ĐBSCL đang đối mặt trước tác động của biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và việc khai thác ở thượng lưu sông Mekong. Vì vậy, giai đoạn 2016 - 2018, ĐBSCL cần chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN để có được sự năng động, toàn diện trong phát triển kinh tế. Các Sở KH&CN cần nghiên cứu định hướng hoạt động KH&CN trong thời kỳ hội nhập để tham mưu, tư vấn cho lãnh đạo các tỉnh, thành phố. Đồng thời, tập trung đẩy mạnh các hoạt động liên quan đến đổi mới, ứng dụng phát triển công nghệ để tạo ra doanh nghiệp công nghệ, phát triển sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, tạo liên kết doanh nghiệp, nâng cao giá trị sản phẩm.

ĐBSCL là vùng nông nghiệp trọng điểm của cả nước và hoạt động nghiên cứu KH&CN trong lĩnh vực này thời gian qua có bước phát triển khá tốt. Song, nhiều ý kiến cho rằng, nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ KH&CN để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản chưa cao, dẫn tới khả năng cạnh tranh sản phẩm nông sản trên thị trường còn nhiều hạn chế. Trong khi đó, nhiều mô hình ứng dụng KH&CN vào sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao lại thiếu vốn đầu tư, hoặc đầu tư còn phân tán, quy mô nhỏ nên chưa tạo sự chuyển biến lớn trong sản xuất nông nghiệp. Công tác nhân rộng mô hình sản xuất còn chậm do giá cả sản phẩm nông sản trên thị trường chưa ổn định. Diện tích đất sản xuất/nông hộ ở ĐBSCL còn manh mún, nhỏ lẻ nên khó thực hiện liên kết trong sản xuất, cung ứng sản phẩm đồng nhất với số lượng lớn, chất lượng cao.

Để giải quyết một phần hạn chế từ thực tiễn, nhiều địa phương vùng ĐBSCL kiến nghị: Bộ KH&CN quan tâm, hỗ trợ các địa phương tiếp tục thực hiện các dự án thuộc các chương trình quốc gia về KH&CN (Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia; Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp; Chương trình quốc gia về nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp; Chương trình hỗ trợ ứng dụng tiến bộ KH&KT phục vụ nông thôn, miền núi…). Từ đó thúc đẩy nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa chủ lực của vùng, của từng địa phương, tăng trưởng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, các bộ, ngành trung ương cần ưu tiên phân bổ nguồn vốn đầu tư cho các địa phương nghiên cứu, chuyển giao các tiến bộ KH&CN vào sản xuất phục vụ đời sống, phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Bài, ảnh: Hà Triều

Chia sẻ bài viết