Truyện ngắn: MAI BỬU MINH
Kéo ga cái máy Koler 4 để chiếc tắc ráng lao vun vút trên cánh đồng ngập linh láng bởi cơn nước lũ, ông Út cảm thấy khoái trá vô cùng. Phen này trời độ ông rồi...
Cánh đồng lúa mùa chìm trong biển nước mênh mông đến tận chân trời. Đôi chỗ, lúa còn lưa thưa lú đọt lên khỏi mặt nước, đôi chỗ lá lúa thả dài nằm chập chờn trên mặt nước theo cơn sóng gợn bởi chiếc tắc ráng lướt qua. Ông Út mỉm cười nhủ thầm: Liệu chúng mày có đủ sức theo kịp con nước rong ba mươi tháng này hay không?
Xuyên qua bờ kênh với những căn nhà lá lụp xụp, nước ngập đến sàn, đến cửa sổ, đến chái nhà... còn lại là cái nóc, nằm lúp xúp như những cái núm rơm mới nhú, ông Út giảm bớt ga cho tắc ráng chạy chậm lại. Thật ra, không phải ông sợ sóng đánh làm sập nhà của dân mà muốn quan sát kỹ còn lúa nhiều hay ít trên những cái ghe, xuồng được che đậy bằng những tấm cao su... Thỉnh thoảng mới có đôi ba bồ lúa nho nhỏ quây trên những cái sàn gỗ dùng chất rơm khô cho bò ăn, nhưng cũng đã lém đém nước... Ông Út thầm tính toán công việc làm ăn của mình.
Ở trong căn buồng nhà ông đã ví bồ chứa khoảng bốn trăm giạ lúa, nếu khéo sắp xếp, mua mê bồ cơi thêm chiều cao, có thể chứa cả ngàn giạ cũng được. Nhà trước, nhà bếp xếp mấy cái giường, bộ ngựa gõ lại để ví bồ thêm, có thể chứa được bốn năm trăm giạ... Chuyện ăn ngủ thì chỗ nào chả được. Ông Út ước tính có thể mua thêm cả ngàn giạ lúa nữa.
Nước dâng lên với tốc độ tròn một ngày đêm có tới năm sáu phân, cả tấc thì ai mà chả lo. Dân ở đây, xứ vùng sâu vùng xa này đa số ở trong những căn nhà lá lụp xụp, cột bằng tre, tràm, vạt lồ ồ giờ bị ngập, tiền đâu mua cây kê, nâng lên... Người có xuồng ghe thì mang gạo, thóc, bếp núc lên đó nấu nướng; người quá khó khăn không thể trụ được đã phải di dời với sự hướng dẫn, trợ giúp của nhà nước. Nhưng ra đi, chỗ ở còn không chắc có, nói chi đến chỗ chứa lúa... Bán. Bà con sẽ bán và phải bán tất cả dù chỉ có vài chục giạ lúa ăn, lúa giống. Nhưng mà bán cho ai? Các công ty cấp huyện đã phải giải thể hết, chỉ còn lại vài công ty của tỉnh, mà tiền đâu mua cho xuể, kho đâu chứa cho hết. Tận ngoài huyện mới có trạm thu mua của tỉnh, nhưng nghe đâu mang lúa đến nơi phải ăn, ngủ đợi chờ bắt số đến phiên mình mới cân lúa bán được. Lại còn chuyện chê lúa dơ, lúa ẩm để trừ cấn, giảm ký và còn phải chi đẹp cho người bốc vác mới mong bán được suôn sẻ. Chưa nói đến chuyện lo ghe, tàu chở lúa từ đây đến trạm mất cả ngày đường, vượt qua bao cua nước xoáy đạp lật nhào xuồng ghe qua lại hoài. Nói đâu xa, ngay cửa sau nhà ông là khúc quanh của con Rạch Voi, mùa này chảy xiết, khi ghe xuồng bị nước xoáy lật chìm thì đồ đạc bị cuốn trôi đập vào sàn nước nhà ông, trôi phăng đi hết nếu vớt không kịp.
* * *
-Chú Út ơi! Chú làm ơn mua giúp giùm cháu, có hai chục giạ thôi hà! Chú không mua, phải chở ra tới trạm, xa xôi quá!
-Mua thì tao cũng đang mua thêm. Nhưng lúa của mày dơ quá, lúc đi bán lại khó... Mày phải chịu bớt đi một chút để lỡ sau này tao có bán cũng không đến nổi lỗ.
Nói đúng ra, lúa của thằng Hai Mót này, ông mua với giá như hôm qua cũng được. Nhưng ông ghét nó đã từng chửi ông, nên ông gây khó dễ để cuối cùng mua với giá thấp hơn người ta ba trăm đồng một ký. Ông làm sao quên được cái vụ ranh giữa đất ông và đất của nó, xém chút nữa đánh lộn đổ máu rồi. Ngày trước đất vùng này làm lúa mùa, đất bên này cày ốp qua một đường, bên kia cày ốp lại một đường, tạo thành cái vồng ranh, khi thu hoạch cứ nhắm ngay ở chính giữa mà buộc ngù và cắt. Từ khi chuyển sang lúa hai vụ, ranh đất biến thành bờ mẫu nhưng nó cũng còn lớn và rộng hơn một thước. Ông đã thấy tiếc và sai lũ con của mình đào đất phía bên ranh mình đấp lên phía bên kia thu hẹp bờ mẫu lại, nhưng được cái cao ráo. Xem như cái bờ mẫu đó thuộc về nó cũng được, ông nới thêm ra diện tích trồng lúa có hơn năm tấc ngang, chạy dài, chớ có lấy đất của nó hồi nào mà nó dám chửi ông. Ông nào có lấn đất, nào có tham lam gì. Có phải ông giàu lên vì năm tấc đất đó đâu. Mà tại vì ông không muốn phí của trời. Rõ ràng, nó phí của trời nên làm ăn không khá lên được. Vừa làm ruộng nhà, vừa làm thuê mướn mà chẳng nuôi nổi vợ con. Vợ nó cũng làm mướn, con nó thất học, bắt ốc, hái rau muống, hái bông điên điển bán kiếm tiền... Mùa lũ năm nay, đâu dễ kiếm tiền nữa. Vợ yếu, con đau, nhà nước ngập nó đã gánh chịu hết... Tội với trời mà... nên cái nghèo cứ đeo đẳng lấy nó.
* * *
Mới mưa có tuần lễ thì nhà ông Ut chẳng còn chỗ nào có thể ví bồ chứa lúa nữa.Vợ chồng, con cái phải trải chiếu, mắc mùng sau sàn nước, ngoài hiên để ngủ... Thây kệ! Lúa rẻ quá không mua uổng thiệt. Bây giờ, đong lúa vô bồ, chừng ba bốn tháng nữa mình bán với giá gấp rưỡi chớ chẳng chơi. Lúa mùa này có nguy cơ mất trắng, đợi qua vụ đông xuân phải hơn năm tháng nữa, lúa gạo mà cứ xuất khẩu, đổi phân bón, xăng dầu thì thiếu đói, giá cả nhảy vọt đến cỡ nào không biết. Thêm nữa, bão miền Bắc, lụt miền Nam... giá lương thực tăng vọt là cái chắc...
* * *
Ông Út vừa ăn bánh ngọt, vừa uống nước trà một mình trên manh chiếu trải trước hiên nhà còn cách mặt nước đến năm sáu tấc. Ông nhẩm tính, chỉ cần ba tháng nữa giá lúa tăng lên thì ông sẽ được lợi kiểu một vốn một lời rồi. Có gì lời hơn nữa chứ! Thiệt ông bà mình nói chẳng sai mà “Một thằng tính bằng chín thằng làm”. Ông tin bài tính của mình sắp xếp không trật đâu được. Trời đêm nay không trăng sao. Gió lay ngọn gáo vật vờ báo hiệu mưa giông. Ông Út nghĩ thầm, phen này dân trong xã này chắc chịu thiếu đói thôi... Còn ông thì:
Trời mưa thì mặc trời mưa
Út này mà tính, chẳng thua đứa nào
Gió mưa, mưa gió chẳng nao
Thiên hạ thiếu đói... thì tao
phất liền...
Vừa nhâm nhi hớp trà nóng, nhìn chớp nhoáng trên trời, ông Út nghĩ ra mấy câu vè dựa theo ca dao mà bật cười thành tiếng. Mưa trút xuống mái ngói, ông hét gọi vợ con lo sập mấy tấm cà rèm che nhà bếp lại. Có tiếng máy nổ dưới kinh. Nghe kỹ, ông biết ngay đó là ghe lúa của thằng Sáu Lờ trở về. Ông hầm hừ trong cổ họng... Eo sách hả, phen này năn nỉ tao mua với giá rẻ mạt tao cũng không thèm. Tiếng máy nổ xình xịch, nặng nề, chứng tỏ ghe khẳm, tức là còn lúa.
Bất chợt, ông nghe tiếng la thất thanh của vợ chồng Sáu Lờ và tiếng máy Koler tắt ngấm. “Chìm... chìm... chìm ghe... cứu cứu...”.
Ông Út ngồi bật dậy, với tay lấy cái đèn măng-sông, bước vội ra sau nhà, mới đến ngạch cửa sau đã nghe cái “Rầm” và tiếp theo là những âm thanh hỗn độn “Rắc rắc, ầm ầm, ào ào, lộp bộp”... của đủ thứ đồ đạc rơi chạm mặt nước. Ván lót dưới chân ông không ngớt rung rinh và chao nghiêng sập xuống nước. Ông chỉ kịp nhoài người ra khỏi căn nhà từ từ đổ sập. Những cây nóng đá dưới sàn nhà ông chịu tải nặng hơn ba mươi tấn bị chấn động bởi chiếc ghe chìm trôi đập vào gãy hàng loạt. Ông hét đến khan cổ gọi tên vợ con. Nước ngập đến cổ, chảy xiết cố cưỡng lại nó cũng làm ông bê theo dòng...
Xuồng ghe hàng xóm chèo chống lại tiếp cứu gia đình giữa cơn mưa giông. Họ cố phá vách, phá cửa để lôi vợ con ông ra cấp cứu ngay trên ghe, xuồng. Ông Út bủn rủn tay chân khi nghe vợ ông gào thét vì thằng út của ông đã chết, mấy đứa kia cũng bị xây xát nặng.
Dù mọi người cố giúp ông Út vớt đồ đạc bị nước cuốn trôi, nhưng số lúa ông vựa coi như mất hết. Dù có dùng đồ xúc, vớt cũng chẳng được bao nhiêu. Tiếng vợ chồng ông gào thét, tiếng bà con chòm xóm khuyên nhủ lao xao chẳng ai nghe rõ được gì. Chỉ có tiếng sấm trên bầu trời là âm vang nhất.