Bài, ảnh: Thanh Long
Bài 3: Lực đẩy "tứ trụ" cần cú hích mới
Trong định hướng phát triển vùng ĐBSCL, TP Cần Thơ đóng vai trò trung tâm. Hợp lực của "tứ trụ", gồm: TP Cần Thơ và các tỉnh An Giang, Kiên Giang và Cà Mau được xem là "đầu tàu". Dù đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhưng TP Cần Thơ, cũng như "tứ trụ" đã và đang cần những "cú hích" mới từ cơ chế, chính sách để phát triển như kỳ vọng.
"Trung tâm động lực" cần có cơ chế đặc thù
 |
|
Hoạt động tại Cảng hàng không Quốc tế Phú Quốc. |
Ngày 17-2-2005, Bộ Chính trị (khóa IX) ban hành Nghị quyết số 45-NQ/TW "về xây dựng và phát triển TP Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" (gọi tắt là NQ45). Nghị quyết này mang ý nghĩa đặc biệt, đánh dấu bước ngoặt mới trong lịch sử phát triển của TP Cần Thơ: trở thành trung tâm động lực phát triển của vùng ĐBSCL.
Những thành quả quan trọng sau 10 năm thực hiện NQ45 được ông Trần Quốc Trung, Bí thư Thành ủy Cần Thơ, đúc kết: Công tác quy hoạch xây dựng thành phố theo hướng văn minh, hiện đại. Thành phố tận dụng mọi cơ hội, khai thác, phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế với tốc độ nhanh, bền vững, có hiệu quả và có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế; chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp công nghệ cao. Huy động các nguồn lực, trong đó đầu tư từ ngân sách được ưu tiên để phát triển nhanh kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và kiến thiết đô thị. Thành phố đã xây dựng đồng bộ hệ thống giao thông thông suốt; chú trọng phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy; nâng cấp mạng lưới điện, thông tin liên lạc, hạ tầng đô thị gắn với bảo vệ môi trường, đạt tiêu chuẩn thành phố văn minh, hiện đại, mang đặc trưng của vùng sông nước ĐBSCL. Kết quả cụ thể: Qua 10 năm, kinh tế thành phố tăng trưởng nhanh hơn giai đoạn trước, tốc độ tăng bình quân đạt 13,98%. Đến năm 2015, tổng sản phẩm trên địa bàn tăng gấp 4,2 lần so với năm 2004, GDP bình quân đầu người tăng gấp 7,7 lần so với năm 2004; đạt 65,3 triệu đồng vào năm 2016. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng gấp 8,9 lần so với năm 2004, bình quân tăng 16,95%/năm... Trong 5 năm (2006-2010), tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 85.062 tỉ đồng, tăng 4,5 lần giai đoạn 2001-2005 và đạt 180.656 tỉ đồng giai đoạn 2011-2015...
Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận, qua 10 năm triển khai thực hiện NQ45 vẫn còn một số việc chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy đạt mức cao, nhưng chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh chưa cao. Môi trường đầu tư chưa thật sự hấp dẫn, thu hút đầu tư nước ngoài và huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vẫn còn nhiều khó khăn; nguồn thu ngân sách chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ bản. Công tác quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch có mặt chưa tốt. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ; việc tổ chức thực hiện các dự án, công trình mang tính chất vùng còn nhiều khó khăn, vướng mắc
Sau buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Cần Thơ về kết quả 10 năm thực hiện NQ45, Bộ Chính trị có Kết luận số 07/KL-TW ngày 28-9-2016 về việc tiếp tục thực hiện NQ45 (gọi tắt là Kết luận 07). Kết luận 07 nhấn mạnh: Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP Cần Thơ cần tiếp tục thực hiện NQ45 một cách tích cực, chủ động, sáng tạo, quyết liệt, đạt hiệu quả cao hơn, xây dựng Cần Thơ trở thành đô thị hạt nhân, có vai trò trung tâm động lực phát triển của vùng. TP Cần Thơ chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù ở mức như đối với TP Đà Nẵng và Hải Phòng; xây dựng phương án trình Chính phủ phê duyệt cho phép thực hiện thí điểm một số cơ chế mới, vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn đặt ra.
Ông Võ Thành Thống, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, cho biết: Kết luận 07 được cụ thể hóa bằng Chương trình số 14-CTr/TU của Thành ủy Cần Thơ, nhằm khai thác đúng mức những thế mạnh, tiềm năng và triển vọng phát triển của thành phố, đồng thời sớm khắc phục những hạn chế, yếu kém. Nhiệm kỳ 2015- 2020, thành phố phải tiếp tục thực hiện NQ45 một cách tích cực, chủ động, sáng tạo, quyết liệt và đạt hiệu quả cao hơn, xây dựng và phát triển thành phố trở thành đô thị hạt nhân, thật sự đóng vai trò trung tâm toàn diện, là động lực phát triển, có sức lan tỏa mạnh mẽ của vùng.
Thành phố đang lấy ý kiến và trình các bộ, ngành trung ương sớm trình Chính phủ ban hành một số cơ chế đặc thù. Theo đó, cơ cơ chế này tập trung vào huy động nguồn vốn cho đầu tư phát triển, vốn ODA, chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư (miễn giảm thuế, giá thuê đất,
); cơ chế phân cấp quản lý về quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị, quản lý đầu tư xây dựng, tổ chức bộ máy,
Cơ chế đặc thù được ban hành, chắc chắn tạo điều kiện thuận lợi để huy động các nguồn lực; là động lực thúc đẩy một cách mạnh mẽ, đồng bộ và bền vững để TP Cần Thơ trở thành trung tâm động lực của vùng như kỳ vọng.
Hợp lực "tứ trụ"
Vùng Kinh tế trọng điểm (KTTĐ) vùng ĐBSCL, gồm: TP Cần Thơ và các tỉnh An Giang, Kiên Giang và Cà Mau. "Tứ trụ" này được xác định là "đầu tàu", tạo ra động lực mới, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội toàn ĐBSCL. Với sự tăng cường đầu tư, hỗ trợ của Trung ương và nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các địa phương, giai đoạn 2011 - 2015, tình hình kinh tế - xã hội của Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL có những chuyển biến khả quan.
Theo đó, giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng của vùng đạt khoảng 9,74%/năm; tổng sản lượng lúa đạt trên 51 triệu tấn, thủy hải sản đạt 7,7 triệu tấn. Năm 2015, thu nhập bình quân đầu người khoảng 51 triệu đồng/người/năm... Cơ cấu kinh tế của vùng chuyển dịch theo hướng tích cực, hằng năm đều tăng tỷ trọng khu vực II và III, giảm dần tỷ trọng ở khu vực I
Bên cạnh một số công trình giao thông quan trọng có tính kết nối liên tỉnh, liên vùng được ưu tiên đầu tư xây dựng, nâng cấp, đưa vào sử dụng, nhiều khu kinh tế đã và đang hình thành trong Vùng KTTĐ, như: Khu kinh tế Phú Quốc - Kiên Giang; Khu kinh tế ven biển Năm Căn - Cà Mau; các khu kinh tế, cửa khẩu biên giới Hà Tiên - Kiên Giang, Bình Khánh - An Giang
Ông Võ Thành Thống, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, Chủ tịch Hội đồng Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL luân phiên, nhiệm kỳ 2015-2016, cho rằng: Bên cạnh những thành tựu đạt được, Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL vẫn còn một số hạn chế nhất định. Đó là: Chất lượng tăng trưởng chưa cao. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, thu hút đầu tư và cải thiện đời sống nhân dân. Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực của vùng, các chỉ số về giáo dục, đào tạo, dạy nghề còn thấp so với mức bình quân chung của cả nước. Đặc biệt, vùng thường xuyên bị ảnh hưởng của lũ lụt, biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn dự báo.
Để giải quyết những hạn chế nêu trên, ngoài việc thống nhất nội dung hoạt động, nhiều ý kiến cho rằng, "tứ trụ" cần đẩy mạnh liên kết trong xây dựng và tổ chức thực hiện các quy hoạch; đào tạo và sử dụng lao động
Đồng thời, kiến nghị Chính phủ, các bộ ngành trung ương, có cơ chế, chính sách tập trung nguồn lực, hỗ trợ thực hiện một số công trình trọng điểm Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL, như: Xây dựng tuyến cao tốc Cần Thơ - Châu Đốc. Đầu tư xây dựng hoàn thiện tuyến đường Hành lang ven biển phía Nam (Giai đoạn 2: đoạn nối từ cụm Khí Điện Đạm Cà Mau đến quốc lộ 1A). Nâng cấp, mở rộng quốc lộ 1A (đoạn từ TP Cà Mau đến Năm Căn). Dự án thi công đê và cống ngăn mặn từ thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang đến TP Cà Mau. Xây dựng các nhà máy nước Sông Hậu 1, Sông Hậu 2, Sông Hậu 3...
Một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế của vùng KTTĐ vùng ĐBSCL là do một số cơ chế, chính sách Trung ương ban hành chậm, chưa sát với thực tế, nên việc triển khai thực hiện còn nhiều vướng mắc. Kinh tế của vùng phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất, tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu hàng hóa nông sản với quy mô nhỏ lẻ nên sản phẩm thiếu tính cạnh tranh. Trong khi đó cơ chế và tổ chức điều phối vùng chưa ổn định, chưa đi vào chiều sâu. Vì vậy, Trung ương cần sớm hoàn thiện cơ chế, chính sách, thể chế về quản lý, điều hành (chính sách đất đai, tài chính, đào tạo nhân lực, khai thác sử dụng tài nguyên nước, ứng phó với biến đổi khí hậu, cải cách hành chính,
)... "Hội đồng Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL cần nghiên cứu, đề xuất Chính phủ có cơ chế tăng thêm mức hỗ trợ bình thường khoảng 15-20% cho các địa phương Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL theo tinh thần Quyết định 492 của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt, nghiên cứu áp dụng các chính sách đặc thù cho một số địa bàn trọng điểm, như: huyện đảo Phú Quốc- tỉnh Kiên Giang, vùng Bảy Núi và khu kinh tế cửa khẩu thuộc tỉnh An Giang; xây dựng dòng ngân sách riêng để hỗ trợ TP Cần Thơ thực hiện NQ45, làm cơ sở mạnh mẽ tạo đà cho phát triển" - ông Nguyễn Trung Hiếu, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, đề xuất.
|
Ông Võ Thành Thống, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ:
Kiến nghị cơ chế đặc thù để xây dựng Cần Thơ trở thành đô thị hạt nhân,
có vai trò trung tâm động lực phát triển của vùng ĐBSCL
Để thực hiện Kết luận 07, TP Cần Thơ kiến nghị Chính phủ nhiều cơ chế đặc thù. Thành phố được ưu tiên hỗ trợ một phần vốn từ ngân sách Trung ương cho ngân sách thành phố để tham gia thực hiện các dự án mang tính chất liên vùng trên địa bàn thành phố theo hình thức hợp tác công - tư (PPP). Ưu tiên bố trí đủ vốn bổ sung có mục tiêu cho ngân sách thành phố để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và các dự án mang tính chất của vùng ĐBSCL. Ưu tiên hỗ trợ vốn hỗ trợ phát triển chính thức cho thành phố để thực hiện những dự án đầu tư hạ tầng quan trọng thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách thành phố do UBND thành phố là cơ quan chủ quản; bố trí vốn vay ưu đãi theo phương thức cho địa phương vay lại để thực hiện các dự án PPP trên địa bàn thành phố.
Thành phố kiến nghị bổ sung có mục tiêu cho thành phố 70% số tăng thu so với dự toán đã được Thủ tướng Chính phủ giao từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách thành phố. Số tăng thu so với dự toán, thành phố được: ưu tiên thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản; đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng; đầu tư Khu Công nghệ cao thành phố; bố trí vốn đối ứng cho các dự án ODA; chi trả nợ các khoản vốn vay;
Được thực hiện cơ chế hỗ trợ một phần lãi suất cho các tổ chức, cá nhân khi vay vốn để đầu tư các dự án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng có khả năng thu hồi vốn trong phạm vi và khả năng của ngân sách thành phố. Ủy quyền cho thành phố quyết định chấp thuận đầu tư đối với các dự án đầu tư xây dựng khu đô thị mới có quy mô từ 20ha đến dưới 200ha phù hợp với quy hoạch chung xây dựng... |
Bài cuối: Vì mục tiêu ĐBSCL thịnh vượng