25/07/2026 - 09:22

Nâng cao năng lực quản trị quốc gia với không gian biển, phát triển kinh tế biển 

Tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Trung ương thống nhất ban hành Nghị quyết mới về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, xác định biển là không gian sinh tồn, phát triển và bảo vệ Tổ quốc; phát triển kinh tế biển hiện đại phải gắn với bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống nhân dân và giữ vững chủ quyền quốc gia.

Tàu cá của ngư dân trên vùng biển An Thới (Phú Quốc). Ảnh minh họa: Lê Huy Hải/TTXVN

Đổi mới tư duy quản trị

Theo Tiến sĩ Nguyễn Đình Đáp, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Trung ương thống nhất ban hành Nghị quyết mới về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, không chỉ khẳng định vị trí, vai trò của biển đối với sự phát triển đất nước mà còn cho thấy yêu cầu đổi mới tư duy quản trị và tổ chức không gian phát triển trong giai đoạn mới.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, biển không còn được nhìn nhận đơn thuần là nơi khai thác tài nguyên hay phát triển một số ngành kinh tế riêng lẻ, mà cần được tiếp cận như một không gian phát triển thống nhất, có sự kết nối chặt chẽ với đất liền, hệ thống cảng biển, logistics, các hành lang kinh tế và mạng lưới hợp tác quốc tế. Đây cũng là yêu cầu nhằm phát huy hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng mới, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và giữ vững chủ quyền quốc gia. 

Để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, trước hết cần đổi mới phương thức quản trị theo hướng tích hợp, liên ngành và dựa trên cơ sở khoa học. Quá trình quy hoạch, khai thác và sử dụng không gian biển cần được đặt trong mối liên kết với quy hoạch phát triển vùng, quy hoạch đô thị, hạ tầng giao thông, cảng biển và các trung tâm kinh tế ven biển, thay vì tiếp cận theo từng ngành hoặc từng địa phương riêng lẻ như trước đây.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng quản trị biển. Việc đẩy mạnh điều tra cơ bản, xây dựng cơ sở dữ liệu biển thống nhất, ứng dụng công nghệ số trong giám sát tài nguyên, môi trường và hỗ trợ hoạch định chính sách sẽ giúp quá trình quản lý và khai thác biển dựa trên bằng chứng khoa học, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và hạn chế các xung đột trong khai thác, sử dụng không gian biển.

Phân tích định hướng phát triển biển trong giai đoạn mới, Tiến sĩ Nguyễn Đình Đáp cho rằng, phát triển kinh tế biển bền vững không chỉ hướng tới mục tiêu tăng trưởng mà còn phải lấy con người làm trung tâm, bảo đảm sinh kế cho cộng đồng ven biển, bảo tồn hệ sinh thái và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đây cũng là cơ sở để các ngành, các địa phương và các chủ thể tham gia khai thác biển cùng hướng tới mục tiêu phát triển hài hòa, bền vững và lâu dài. Những yêu cầu đó cũng đặt ra đòi hỏi phải tiếp tục tăng cường đầu tư cho điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học và phát triển hạ tầng dữ liệu biển.

Đây sẽ là nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực quản trị quốc gia đối với không gian biển, đồng thời tạo tiền đề cho việc ứng dụng hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế biển ở giai đoạn tới.

Xây dựng nền tảng dữ liệu cho quản trị biển hiện đại

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Công Quế, Chủ tịch Hội Địa Vật lý Việt Nam, việc Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV tiếp tục khẳng định biển là không gian sinh tồn và phát triển của đất nước cho thấy yêu cầu phải nâng cao năng lực làm chủ không gian biển trên cơ sở khoa học. Với vùng biển, nơi Việt Nam thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán theo luật pháp quốc tế, việc điều tra, đánh giá đầy đủ các điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường biển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế biển bền vững.

Nhiều thập kỷ qua, các hoạt động điều tra địa chất và địa vật lý đã góp phần phát hiện, đánh giá tiềm năng dầu khí, khoáng sản biển, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch, khai thác tài nguyên và nghiên cứu cấu trúc địa chất dưới đáy biển. Kết quả khảo sát cũng được sử dụng trong đánh giá nguy cơ động đất, sóng thần, bão, xói lở bờ biển và nhiều loại hình thiên tai khác, góp phần nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai và bảo đảm an toàn cho các hoạt động phát triển kinh tế, quốc phòng trên biển.

Tuy nhiên, một trong những điểm nghẽn hiện nay là dữ liệu điều tra biển vẫn còn phân tán giữa nhiều bộ, ngành và chương trình khác nhau, thiếu sự kết nối và chia sẻ đồng bộ. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả khai thác thông tin mà còn dẫn đến tình trạng chồng chéo trong điều tra ở một số khu vực, trong khi nhiều vùng biển vẫn thiếu dữ liệu phục vụ quản lý và phát triển.

Để khắc phục hạn chế này, Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Công Quế cho rằng, cần sớm xây dựng bản đồ số đại dương trên cơ sở tích hợp đồng bộ các kết quả điều tra, khảo sát về tài nguyên, môi trường và điều kiện tự nhiên biển. Khi kết hợp với trí tuệ nhân tạo và các công nghệ số hiện đại, hệ thống dữ liệu này sẽ tạo nền tảng cho quản trị tổng hợp không gian biển, hỗ trợ quy hoạch phát triển, khai thác hợp lý tài nguyên, hạn chế xung đột lợi ích giữa các ngành và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Cùng với việc đẩy mạnh điều tra cơ bản, Việt Nam cần tiếp tục đầu tư cho hệ thống quan trắc hiện đại trên biển nhằm nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai và giám sát môi trường theo thời gian thực. Đây không chỉ là cơ sở phục vụ phát triển các ngành kinh tế biển mới mà còn góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền và cung cấp luận cứ khoa học cho việc thực thi quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam trên biển theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Thanh Hương - Diệu Thuý (TTXVN)

Chia sẻ bài viết