Ký * KIM CHINH
Trong một lần đến Nhà nuôi dưỡng người già và trẻ em không nơi nương tựa (tại quận Bình Thủy, TP Cần Thơ) vào năm 1997, tôi tình cờ nghe kể về một bà cụ neo đơn, diện chính sách, thường bị co giật do hậu quả của những trận đòn tra tấn dã man dưới nhà tù Mỹ - ngụy. Trong cơn mê sảng, bà thường lặp lại những lời lẽ đấu tranh đanh thép với quân thù, hô to các khẩu hiệu hoặc hát vang những bài ca cách mạng. Nhìn cụ bà gầy gò tuổi ngoài 80, trên đầu tóc lưa thưa, lộ ra từng mảng sẹo, khắp người còn hằn vết tích những trận đòn thù ... tôi lặng người nhận ra đó chính là má Ba Trầu (tên thật là Nguyễn Thị Huệ), một bà má Nam bộ từng là niềm tự hào của phụ nữ Cần Thơ - Hậu Giang mà tôi được biết trước đó. Cuộc đời có phần bí ẩn của bà má hơn 120 lần cùng “đội quân tóc dài” đi đấu tranh trực diện với quân thù, 12 lần vào tù ra khám ấy cứ thôi thúc tôi đi tìm lại các nhân chứng...
 |
|
|
Hầu hết những cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ ở Cần Thơ - Hậu Giang qua các thời kỳ từng biết về má Ba Trầu đều kể về má với niềm kính trọng sâu sắc. Trong câu chuyện của mỗi người, má là một phụ nữ Nam bộ khảng khái, gần gũi, bình dị đến lạ kỳ. Với đồng chí, đồng đội má hết mực thương yêu, xả thân bảo vệ, che chở và góp ý xây dựng chí tình. Nhưng khi đối mặt với kẻ thù, má hết sức bình tĩnh, gan dạ, hành động quyết liệt, lý lẽ sắc bén. 12 lần bị địch bắt tra khảo dã man, má thà hy sinh tính mạng để bảo vệ đồng chí, bảo vệ cách mạng. Trong các nhà tù, từ Vị Thanh, Khám lớn Cần Thơ rồi đến Khám lớn Sài Gòn, ở đâu má cũng liên tục phát động mọi người đấu tranh, gây rối, khiến địch càng điên tiết đánh đập dã man hơn, hoặc cuối cùng đuối lý phải thả má ra. Gần 50 năm trôi qua, khi nhắc đến má ba Trầu, bà Lê Minh Châu (Bảy Minh Châu) nguyên là Phó Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Cần Thơ, người gần cả cuộc đời gắn bó với phong trào phụ nữ Cần Thơ - Hậu Giang, trong đó có 15 năm là Hội trưởng Phụ nữ tỉnh, bồi hồi nhớ lại: “Ở Hòa Mỹ, ít ai biết tên thiệt của má Ba, má ghiền ăn trầu đến độ thành danh “Ba Trầu” luôn. Tuy má không biết chữ nhưng đứng ra tuyên truyền, vận động chị em nghe theo. Cuộc đấu tranh nào có má với ông Hai Thanh Niên (ông Nguyễn Văn Hai - Trưởng đoàn đấu tranh chính trị của xã) tham gia là nổi đình nổi đám. Sau này cô không hoạt động cùng địa bàn với má, nhưng tổng kết phong trào đấu tranh chính trị của phụ nữ tỉnh Cần Thơ thời kỳ chống Mỹ, tổng cộng lớn nhỏ má đã tham gia trên 120 cuộc đấu tranh, biểu tình. Má rất gan dạ, thường xông lên phía trước. Nhiều lần má bị địch bắt, tra tấn đến chết đi sống lại, nhưng hể được thả ra, vừa hơi khỏe lại là má xung phong đi đấu tranh tiếp. Năm 1964, má là một trong 10 bà mẹ được tuyên dương danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn miền Tây”.
Nhiều cán bộ Hội từng công tác với má Ba đều kể rằng tổ chức phân công việc gì má cũng làm, chỗ nào khó khăn, nguy hiểm là má xông vào và chưa bao giờ nghe má than vãn, hay kể về những khó khăn riêng tư của mình. Một số cán bộ hội gần gũi với má cho biết, má từng tâm sự: Trước khi tham gia cách mạng vào năm 1935, ông già của má từng ở đợ cho địa chủ, cuộc đời của vợ chồng má cũng từng trải qua kiếp tá điền, bị áp bức cùng cực. Nhờ có Đảng, Bác Hồ giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ mà cuộc đời má mới được tự do, được ngẩng cao đầu. Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, má được đồng chí Hai Kim Anh (Võ Kim Anh), nguyên là Phó Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh, khi đó là cán bộ phụ vận ở Long Mỹ, phân công má làm giao liên, đi móc nối với các cơ sở cách mạng, tham gia các cuộc đấu tranh biểu tình ở địa phương, hoạt động trong Hội Mẹ chiến sĩ...
Một trong những người gần gũi, biết rõ về má trong những năm đấu tranh ác liệt là cô Sáu Bé (tên thật là Trần Thị Sương), nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy (TP Cần Thơ cũ), khi ấy là Phó Ban Phụ vận huyện Phụng Hiệp. Gặp cô Sáu khi gần kề kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đảng, cũng đúng thời điểm cô tròn 50 tuổi Đảng. Với cô, má Ba Trầu là một trong những tấm gương đảng viên trung kiên, tiêu biểu mà nhiều người phải học tập. Theo cô Sáu, đầu năm 1961, má Ba lúc đó là Ủy viên Ban Chấp hành phụ nữ xã Vĩnh Tường (Long Mỹ), hoạt động bị lộ, địch lùng bắt nên được đồng chí Hai Kim Anh đưa về Hòa Mỹ (Phụng Hiệp) để tăng cường cho phong trào đấu tranh chính trị của địa phương. Má Ba rất dũng cảm, trong các cuộc đấu tranh, má luôn đứng ở nơi đầu sóng, ngọn gió, nhiều lần cầm băng, khẩu hiệu đi đầu, má được kết nạp Đảng tại cơ quan Phụ nữ huyện vào năm 1962. Cô cũng cho biết, hoàn cảnh của má rất thương tâm: chồng má đi bộ đội và bị bệnh chết, con trai duy nhất gởi bà con nuôi lớn, tham gia du kích địa phương cũng hy sinh. Cô Sáu nhớ lại: “Lúc đó má đem đứa cháu nội trai khoảng 8 tuổi về ở chung, đi công tác thường dắt theo để tạo thế hợp pháp. Trước mỗi đợt đi đấu tranh, má thường dặn mấy chị em: “Trận này tao có bị gì thì tụi bây nuôi nó giùm tao nghen”, nhưng sau nhiều lần vào tù ra khám, có lúc sức khỏe yếu không đi được, má sợ ảnh hưởng tới tổ chức nên đem cháu đi gởi cho người bà con, rồi nghe đâu cháu cũng hy sinh”.
Tuy công tác chung với má chỉ vài năm nhưng cô Sáu còn nhớ như in những trận đấu tranh quyết liệt, rất nổi tiếng của má. Điển hình như cuộc biểu tình, đưa gia đình binh sĩ hơn 1.000 người ra dinh Tỉnh trưởng Cần Thơ đấu tranh, khi tới Cầu Cái Răng, địch chặn lại đàn áp. Thấy trong đoàn có một số người nao núng, má lao lên phía trước vừa xô đẩy, giằng co quyết liệt với địch, vừa tố cáo tội ác, hô hào quần chúng tiến lên, má bị địch bắt tra khảo, mấy ngày sau mới thả. Trong giai đoạn 1963 - 1964, ta đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp với binh vận, má cùng với bà con kéo ra Phú Hữu, Ngã Sáu, Cái Chanh, Cái Muồng, có khi huy động cả đoàn múa lân đi bằng xuồng ra tới dinh Tỉnh trưởng. Trong đó có nhiều trận tổ chức đấu tranh chở tử thi rất thành công, bắt địch phải bồi thường, cam kết không dội pháo, bắn giết bừa bãi. Năm 1967, địch bắn pháo bừa bãi làm chết nhiều người, trong một trận tham gia đấu tranh chở tử thi, má bị chúng bắt đưa ra khám lớn, tra tấn đủ kiểu. Năm 1968, xã vận động lực lượng tham gia 10 cuộc đấu tranh chính trị lớn do huyện tổ chức, má Ba luôn đi đầu, cầm băng cờ, hô khẩu hiệu và bị bắt nhiều lần. Má ở tù nhiều đến độ tụi lính đều quen mặt má. Có lần chúng hăm: “Đợt này cho bà ở tù tới mọc râu luôn!”, má cười trả lời: “Nhà tù như nhà tao vậy!” và lấy tóc kết giả làm râu rồi đòi chúng thả ra. Lần nào ra tù, trên người má cũng mang nhiều thương tích, có khi phải khiêng, nhưng không bao lâu sau má lại có mặt trong hàng ngũ đấu tranh. Trong cuộc đấu tranh biểu tình lớn yêu cầu địch không bắn pháo bừa bãi vào năm 1969, địch phát hiện má quấn băng cờ trong mình nên bắt má tra khảo hơn nửa ngày, đánh sụp cả sọ đầu. Chúng bắt má khai ra người cầm đầu, má chỉ một mực nói: “Tui là dân thường lo làm ăn, mấy ông bắn phá giết hại chồng con, anh em tui thì tui phải đấu tranh. Chừng nào ô-buýt thôi bắn, đầm già, phản lực thôi bay thì không đi đấu tranh nữa”. Hôm sau chúng tiếp tục tra khảo cho đến khi thấy má sắp chết, chúng mang má bỏ ở trường học, xã tổ chức đón về cứu chữa, nhưng chân má mang tật suốt đời. Thời gian sau, do má tuổi cao sức yếu, thường xuyên bị co giật, bất tỉnh, má xin tổ chức về nhà người quen để chữa bệnh. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, các cán bộ Hội Phụ nữ huyện Phụng Hiệp rước má về chăm sóc tại trụ sở hội, nhưng do má thường bị co giật khi sống ở nhà tường, những nơi có bóng đèn điện, nên các đồng chí UBND xã Hòa Mỹ rước má về xã, cất cho má một cái chòi lá đơn sơ cạnh UBND xã để tiện chăm sóc.
Tuy tuổi cao sức yếu, thời gian sau này má không còn tham gia sinh hoạt Đảng, nhưng lúc nào, ở đâu má cũng luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm, phẩm chất sáng ngời của một đảng viên Cộng sản. Tôi từng nghe chị Nguyễn Hồng Diện (Út Diện) trước đây là Chủ tịch Hội LHPN huyện Phụng Hiệp, hiện nay là Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Hậu Giang, và anh Phan Hồng Quân, nguyên là Phó Chủ nhiệm UBKT Đảng tỉnh Hậu Giang đã nghỉ hưu (trước đây là Bí thư xã Hòa Mỹ) kể nhiều câu chuyện cảm động về má. Theo chị Út Diện, dù bệnh tật đau yếu, nhưng lúc nào khỏe là má giành làm đủ thứ việc. Trong thời gian ở xã Hòa Mỹ, dù hôm trước vừa bị co giật bất tỉnh nhưng hôm sau đã thấy má xách dao đi làm cỏ, hay quét dọn trụ sở, má bảo đó là nhiệm vụ của đảng viên. Không thuyết phục má được, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã đành nói: “Đảng ra lệnh cho má phải nghỉ ngơi” thì má mới chịu nghỉ tay. Sau này, khi má bệnh nhiều, các cán bộ xã đã làm thủ tục đưa má về Nhà nuôi dưỡng người già... để má được chăm sóc tốt hơn. Có lần, chị Út Diện hỏi thăm về con trai và cháu nội trai duy nhất của má để làm thủ tục đề nghị công nhận má là Mẹ Việt Nam Anh hùng, nhưng má bảo: “Hãy để những người cực khổ nuôi dưỡng con, cháu má hưởng những chính sách đó, cuộc sống của má được nhà nước lo đầy đủ rồi, má không cần gì nhiều...”. Tôi nghe nói, trong những ngày cuối đời, má Ba tỉnh táo lạ thường, mấy lần nhắc tới Út Diện và có nguyện vọng khi chết được đắp trên người lá cờ Đảng. Ngày má qua đời (ngày 20-4-1998), những đứa con ở Hội LHPN huyện Phụng Hiệp đã rước má về tổ chức tang lễ tại cơ quan hội và thực hiện đầy đủ nguyện vọng cuối đời của má trước khi đưa đi an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Phụng Hiệp.
Mỗi năm, khi đến đợt kỷ niệm 3-2, tôi thường nhớ về má Ba Trầu. Xem lại băng ghi hình má từ nhiều năm trước, khi tôi tham gia thực hiện bộ phim về truyền thống phụ nữ tỉnh Cần Thơ, dù lúc đó má bệnh nhiều, đi không vững, nhưng giọng nói vẫn sang sảng, đầy “khí phách”. Nhắc đến Đảng, đến Bác Hồ, ánh mắt má hấp háy những tia sáng kỳ lạ. Lý giải về những việc mình đã làm, má chỉ nói vắn tắt: “Bao nhiêu người vì nước quên mình, tuổi xuân thời cống hiến cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, má già rồi, hy sinh thân mình đâu có tiếc. Hồi vô Đảng, má có tuyên thệ tuyệt đối trung thành với Đảng. Má luôn khắc cốt, ghi xương lời thề đó, nhiệm vụ nào cũng cố gắng hoàn thành...”. Mùa xuân này, Đảng ta tròn 80 tuổi. Trong tiết xuân thanh bình, ấm áp tôi như còn nghe giọng má Ba văng vẳng đâu đây. Với những thế hệ phụ nữ từng gần gũi với má, má không chỉ là hiện thân của hàng ngàn, hàng vạn bà mẹ miền Nam trung kiên đã hy sinh cả tuổi thanh xuân, cuộc đời, những người thân yêu cho Tổ quốc, mà còn giúp nhiều đảng viên đi sau hiểu sâu sắc hơn thế nào là đi theo Đảng đến cùng.