Hội nhập quốc tế (HNQT) đang tạo ra những cơ hội phát triển chưa từng có cho TP Cần Thơ và ĐBSCL. Nhưng nơi đây đang phải đối mặt với những nghịch lý nội tại ngay trên sân nhà. Từ câu chuyện một thùng nông sản phải đi đường vòng đến việc doanh nghiệp phải "đặt hàng" nhân lực ngoài khu vực, thực tế đang đặt ra những bài toán hóc búa cho vai trò đầu tàu của Cần Thơ. Nhận diện thẳng thắn những rào cản kinh niên mang cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan là bước đi bắt buộc để TP Cần Thơ nhìn rõ thực lực, tìm cách khơi thông dòng chảy phát triển trước khi tính đến những mục tiêu xa hơn.

Hoạt động tại Cảng Cái Cui.
Bài toán hạ tầng và nghịch lý đường vòng của logistics
Minh chứng rõ nhất cho nghẽn mạch hội nhập là hành trình của một container xoài: thay vì xuất khẩu trực tiếp, trái cây vùng sông nước phải vượt 200km ngược lên TP Hồ Chí Minh hoặc Đông Nam Bộ để làm thủ tục thông quan và kết nối các tuyến vận tải quốc tế. Đường vòng này không chỉ làm giảm chất lượng nông sản, đội chi phí logistics mà còn kéo sụt sức cạnh tranh của hàng triệu tấn lúa gạo, thủy sản của toàn vùng khi bước ra thế giới. Nghịch lý ấy chỉ ra thực tế: Dù sở hữu vị trí trung tâm, hội đủ hệ thống cảng biển, cảng sông và sân bay quốc tế, TP Cần Thơ vẫn chưa thể phát huy vai trò đầu mối logistics chủ lực của ĐBSCL.
Thực lực logistics địa phương hiện còn "rất mỏng". Theo ông Nguyễn Đức Bình, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), số doanh nghiệp logistics tại Cần Thơ hiện chỉ chiếm khoảng 7% tổng số doanh nghiệp logistics của cả nước - một con số khá khiêm tốn so với vai trò trung tâm vùng mà thành phố hướng tới. Để Cần Thơ thực sự trở thành trung tâm logistics của vùng, ông Phạm Quốc Long, Chủ tịch Hiệp hội Đại lý, Môi giới và Dịch vụ Hàng hải Việt Nam (VISABA), Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Tập đoàn Gemadept, cho rằng cần đồng thời phát huy các lợi thế sẵn có và tháo gỡ các điểm nghẽn đang làm chậm quá trình đầu tư, vận hành. Các chuyên gia chỉ ra 5 điểm nghẽn lớn của logistics địa phương gồm: hiệu năng thấp và chi phí cao; thiếu dịch vụ giá trị gia tăng; năng lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; logistics xanh phát triển chậm; và logistics số còn thiếu nền tảng dữ liệu dùng chung.
Nguyên nhân trước hết nằm ở sự thiếu đồng bộ của hạ tầng kết nối. Nhiều tuyến giao thông chiến lược đang được đầu tư nhưng mạng lưới từ vùng nguyên liệu đến cảng, trung tâm logistics và khu công nghiệp vẫn còn những điểm nghẽn. Bên cạnh đó, hệ sinh thái logistics chủ yếu mới dừng ở các dịch vụ cơ bản như vận tải, kho bãi và giao nhận; các dịch vụ giá trị gia tăng như đóng gói, chế biến sau thu hoạch, quản lý chuỗi cung ứng hay logistics số phát triển chậm.
Một lực cản khác là quy mô các doanh nghiệp logistics địa phương còn khiêm tốn, đi kèm với năng lực tài chính hạn hẹp và phần lớn hoạt động ở cấp độ 2PL, trong khi các dịch vụ logistics tích hợp 3PL, 4PL vốn tạo ra giá trị gia tăng cao vẫn còn rất ít. Sự liên kết giữa doanh nghiệp dịch vụ này với doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu cũng chưa thật sự chặt chẽ. Ngoài ra, Cảng Hàng không Quốc tế Cần Thơ dù được kỳ vọng trở thành cửa ngõ hàng không của vùng nhưng số lượng đường bay quốc tế còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu kết nối ngày càng tăng của hoạt động đầu tư, thương mại và du lịch quốc tế. Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, khả năng kết nối không chỉ được đo bằng khoảng cách địa lý mà còn bằng năng lực kết nối dữ liệu, công nghệ và tri thức, khiến hạ tầng số và nền tảng dữ liệu đang trở thành yêu cầu quan trọng đối với tiến trình hội nhập.

Hoạt động tại Công ty CP Hạnh Nguyên logistics (Cụm công nghiệp tập trung Phú Hữu A, giai đoạn 1, TP Cần Thơ).
Khoảng trống nhân lực và tư duy "vùng chúng ta"
Nghẽn hạ tầng vật lý đã đáng ngại, nghẽn hạ tầng nhân lực lại càng đáng lo. Ông Võ Văn Khải, Phó Tổng Giám đốc Công ty Thép Tây Đô, cho biết doanh nghiệp vẫn phải tuyển dụng nhiều lao động kỹ thuật từ các tỉnh miền Trung do nguồn nhân lực được đào tạo bài bản phục vụ ngành công nghiệp nặng tại ĐBSCL còn hạn chế. Theo ông Khải, công ty phải chủ động liên kết với các trường nghề ngoài khu vực để đặt hàng đào tạo từ 30-40 học viên mỗi khóa nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất.
Thực trạng trên phản ánh bài toán nhân lực đang trở thành điểm nghẽn lớn đối với tiến trình hội nhập của thành phố. Dù là trung tâm đào tạo lớn nhất ĐBSCL với hệ thống trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu khá phát triển, nguồn nhân lực chất lượng cao của Cần Thơ vẫn chưa đáp ứng yêu cầu mới, nhất là trong các lĩnh vực logistics, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị hiện đại. Nguyên nhân xuất phát từ khoảng cách giữa nhu cầu doanh nghiệp và chương trình đào tạo khi nhiều cơ sở vẫn nặng lý thuyết, trong khi doanh nghiệp cần lao động có khả năng làm việc ngay trong môi trường sản xuất hiện đại và HNQT, dẫn đến hiện tượng “chảy máu chất xám” khi nhiều lao động có trình độ lựa chọn làm việc tại các trung tâm kinh tế lớn.
Một thách thức khác là năng lực hội nhập của cộng đồng doanh nghiệp. Phần lớn doanh nghiệp ĐBSCL có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, nguồn lực hạn chế, khả năng đầu tư đổi mới công nghệ chưa cao, gây khó khăn khi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đặt ra những yêu cầu ngày càng khắt khe về tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường và phát triển bền vững. Đáng chú ý, những hạn chế khách quan như việc sáp nhập, điều chỉnh đơn vị hành chính và thay đổi quy mô phát triển làm cho một số cơ chế, chính sách đặc thù trước đây không còn phù hợp. Đặc thù tự nhiên của vùng ĐBSCL (địa hình chia cắt, nền đất yếu, chịu tác động của biến đổi khí hậu) cũng làm gia tăng chi phí đầu tư, kéo dài thời gian triển khai các dự án hạ tầng. Quy mô nền kinh tế còn hạn chế, nguồn thu ngân sách chưa đáp ứng yêu cầu đầu tư cho các hoạt động hội nhập quy mô lớn, bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nhất là về kỹ năng đối ngoại, pháp luật quốc tế, logistics và thương mại điện tử xuyên biên giới chưa được triển khai đồng bộ, bài bản.
Theo ông Vũ Thành Tự Anh, Trưởng nhóm nghiên cứu Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL năm 2025, vùng đang thiếu những cực tăng trưởng đủ mạnh để tạo sức lan tỏa. Tỷ lệ doanh nghiệp quy mô vừa của ĐBSCL chỉ khoảng 1,8%, trong khi khoảng 96% là doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ; tổng vốn FDI của vùng hiện chỉ chiếm chưa tới 4% cả nước; tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 16,3%, thấp nhất cả nước.
Nút thắt quyết định suy cho cùng vẫn nằm ở tư duy liên kết vùng. Trong khi các nhà đầu tư quốc tế nhìn nhận ĐBSCL như một không gian kinh tế thống nhất, nhiều hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch vẫn còn triển khai riêng lẻ. Điều này đòi hỏi phải có cơ chế điều phối hiệu quả hơn, trong đó Cần Thơ cần phát huy vai trò trung tâm, trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực, thông tin và cơ hội hợp tác quốc tế cho toàn vùng. Ông Lê Minh Hoan, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, khẳng định muốn phát triển, ĐBSCL phải thay đổi tư duy từ “tỉnh tôi” sang “vùng chúng ta”. TP Cần Thơ, các tỉnh vùng ĐBSCL phải là những mắt xích hữu cơ trong một hệ sinh thái chung, phân định rõ vai trò từ logistics, chế biến sâu đến kinh tế biển, tạo bệ phóng tổng lực để cùng tự tin bước ra thế giới.
* * *
Từ logistics, nguồn nhân lực đến cả liên kết vùng, những điểm nghẽn tồn tại nhiều năm qua đang làm giảm sức hấp dẫn đầu tư và hạn chế khả năng tham gia sâu hơn của TP Cần Thơ cũng như ĐBSCL vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Thẳng thắn nhận diện và tháo gỡ các nút thắt này sẽ là điều kiện tiên quyết để Cần Thơ thực hiện vai trò cửa ngõ hội nhập của vùng, tạo nền tảng vững chắc cho bứt phá trong giai đoạn phát triển mới.
NAM HƯƠNG
(Còn tiếp)
Kỳ cuối: Khát vọng Tây Đô: Khơi nguồn tri thức, định vị đầu tàu chiến lược