02/09/2026 - 10:21

Liên kết “bốn nhà” trong kỷ nguyên số

Khi thời sự gõ cửa từng thửa ruộng 

Liên kết “bốn nhà” trong kỷ nguyên số là yêu cầu thời sự cấp bách nơi đầu bờ, đòi hỏi sự gắn kết thực chất giữa chính sách, chất xám và thị trường vào từng thửa ruộng, từng mùa vụ của người nông dân.

Từ câu chuyện cũ đến yêu cầu cấp bách của kỷ nguyên số

Khởi phát từ thực tiễn sản xuất và tiêu thụ lúa gạo tại An Giang từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước, rồi được thể chế hóa qua Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24-6-2002 của Thủ tướng Chính phủ cùng các chủ trương xuyên suốt của Đảng, liên kết “bốn nhà” vốn là câu chuyện quen thuộc trong tiến trình phát triển nông nghiệp.

Liên kết “bốn nhà” trong kỷ nguyên số, nông dân cần từ bỏ tập quán manh mún để cùng hợp tác xã xây dựng mô hình “hợp tác xã thông minh”, “nông dân số”... Trong ảnh: Trên cánh đồng sản xuất lúa chất lượng cao của tỉnh An Giang.

Thế nhưng, bước vào kỷ nguyên số với những đòi hỏi khắt khe về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và biến đổi khí hậu, mô hình này lại nổi lên như một yêu cầu thời sự cấp bách. Dù trải qua nhiều thập kỷ bàn thảo, làm sao để cỗ máy liên kết vận hành thực chất, thoát khỏi sự đứt gãy và tính hình thức vẫn là bài toán sống còn đang gõ cửa từng thửa ruộng, từng hợp tác xã và từng doanh nghiệp.

Yêu cầu thời sự này bắt nguồn từ sự chuyển dịch căn bản trong tư duy phát triển. Khi mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác thô tài nguyên hay thâm dụng lao động giá rẻ đã chạm trần, nông nghiệp bắt buộc phải chuyển sang chiều sâu, lấy khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm động lực trung tâm.

Theo tinh thần Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, liên kết đa bên không còn là sự phối hợp hỗ trợ mang tính hành chính đơn thuần mà nâng tầm thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mở. Bản chất của sự vận hành này đòi hỏi các chủ thể phải đồng xác định vấn đề, đồng thiết kế giải pháp, đồng đầu tư nguồn lực, đồng triển khai, đồng hưởng lợi và đồng chịu trách nhiệm.

Tròn vai thực chiến và kiến tạo giá trị nơi đầu bờ

Để hệ sinh thái vận hành hiệu quả, người nông dân và hợp tác xã phải chuyển dịch từ vị thế tiếp nhận thụ động sang chủ thể đồng sáng tạo, trực tiếp kiểm chứng công nghệ trên đồng ruộng. Nông dân cần từ bỏ tập quán manh mún để cùng hợp tác xã xây dựng mô hình “hợp tác xã thông minh”, “nông dân số”, chuẩn hóa quy trình, thiết lập mã số vùng trồng và thực hiện truy xuất nguồn gốc nhằm kết nối sòng phẳng với thị trường.

Ở vị trí trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và thương mại hóa, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy thu mua ở phần ngọn sang trực tiếp đồng hành ở phần gốc chuỗi giá trị. Doanh nghiệp chủ động mang bài toán từ thị trường để đặt hàng trực tiếp cho các viện, trường; trích lập quỹ khoa học công nghệ, cùng đầu tư vốn và thiết bị thử nghiệm với nhà khoa học; đồng thời cung ứng giống chuẩn, vật tư và bảo đảm bao tiêu sản phẩm qua hợp đồng kinh tế minh bạch.

Đối với đội ngũ nhà khoa học, yêu cầu cấp thiết là phải bước ra khỏi “tháp ngà học thuật” để trở thành “người giải đề” cho thực tiễn sản xuất. Nghiên cứu khoa học không thể chạy theo số lượng báo cáo nghiệm thu rồi “cất ngăn kéo”, mà phải kết tinh thành năng suất cây trồng, vật nuôi thích ứng biến đổi khí hậu, quy trình giảm phát thải và công nghệ bảo quản chế biến sâu. Việc phát triển các doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ trong trường đại học, đi kèm cơ chế phân chia lợi nhuận và định giá tài sản trí tuệ minh bạch sẽ là đòn bẩy kinh tế trực tiếp gắn kết nhà khoa học với thị trường.

Giữ vai trò kiến tạo và điều phối, Nhà nước có nhiệm vụ định hình hành lang pháp lý, gỡ bỏ các nút thắt về thể chế chuyển giao và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Sự can thiệp của Nhà nước thể hiện qua việc sử dụng vốn mồi, chính sách tín dụng ưu đãi, ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và phát triển các tổ chức trung gian như sàn giao dịch công nghệ, vườn ươm doanh nghiệp. Trong kỷ nguyên số, dữ liệu và nền tảng số phải được xác định là hạ tầng chiến lược, đòi hỏi việc sớm hoàn thiện thể chế dữ liệu và liên thông hệ thống thông tin dùng chung từ cơ quan quản lý đến viện trường, doanh nghiệp và người dân.

Hiệu quả của mối liên kết “bốn nhà” trong giai đoạn mới phải được đo lường bằng kết quả thực tế trên từng cánh đồng, từ mức độ cắt giảm chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tỷ lệ cơ giới hóa đến mức giảm phát thải nhà kính và sự gia tăng thu nhập thực tế của người sản xuất. Khi các chủ thể cùng kiên trì nguyên tắc 3 đồng: đồng hành trong mọi giai đoạn, đồng lòng chia sẻ rủi ro và đồng lợi qua cơ chế cùng thắng minh bạch, liên kết “bốn nhà” sẽ thực sự trở thành thế chân kiềng vững chắc đưa nền nông nghiệp phát triển xanh và bền vững.

Bài, ảnh: HÀ TRIỀU

Chia sẻ bài viết