* KS Hồ Quang Cua
Nguyên Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Sóc Trăng
Những ngày qua, do có nhiều việc phải giải quyết trong mối quan hệ nông dân doanh nghiệp, tôi có điều kiện đi qua nhiều vùng lúa đang và sắp thu hoạch. Trước khi đến vùng lúa ngút ngàn đang chín vàng ở Ngã Năm, nhìn những trà lúa xuân hè mơn mởn ở Thạnh Trị báo trước một vụ bội thu, gợi nhớ cho tôi những kỷ niệm của 40 năm về trước.
Mùa xuân năm 1975, trước khi về nghỉ Tết, thầy Võ Tòng Xuân giao chúng tôi đi sưu tập các giống lúa mùa địa phương. Nhờ vậy, chúng tôi có cơ hội biết đến những vùng quê với những làng mạc xơ xác do chiến tranh, những gốc rạ xẩm vàng do phèn lưu dẫn và những bồ lúa bé nhỏ do thu hoạch chẳng được là bao. Nông dân thời đó nghèo thật. Nghèo do chẳng an tâm cày cấy, nghèo do chưa có kinh mương, đê điều, nghèo do quanh năm quanh quẩn ở những vùng quê
nhưng tất cả đang được thắp sáng bởi một niềm tin: đất nước được hòa bình thống nhất.
Rồi tôi cũng có dịp được quay trở lại những vùng quê khốn khó đó từ năm 1978, với tư cách một chuyên viên nông nghiệp. Chuyến đi này nhằm thực hiện ước mong chung của toàn xã hội, là làm sao để phục hồi sản lượng lương thực, nhằm thoát ra được cảnh đói đã lan đến Đồng bằng sông Cửu Long - vốn là một đồng bằng trù phú, gạo ngon đã được biết đến ở thị trường Hương Cảng (Hồng Công ngày nay) trước Cách mạng tháng 8 .

Xã Trường Khánh, nơi đầu tiên đạt năng suất lúa 1 tấn/công, nay trở thành cánh đồng lớn bạt ngàn. Ảnh: XUÂN TRƯỜNG
Tuy rằng đến năm 1980 không còn ghe Bến Tre đến Sóc Trăng đổi bàn thờ ông bà lấy vài giạ lúa, nhưng sản lượng lúa cũng không tăng được bao nhiêu, bởi mối quan hệ hợp tác gò bó, cũng như thiếu thốn vật tư, xăng dầu trong thời buổi đất nước bị cấm vận. Cây lúa cải thiện ngắn ngày vẫn chưa đem đến thu nhập cho nông dân là bao vì sâu rầy thì nhiều, mà thuốc men thì ít. Mãi đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, sản lượng lương thực mới có sự bức phá và năm 1989 nước ta bắt đầu xuất khẩu gạo. Mất 15 năm (1976 1991 ) sản lượng lương thực của tỉnh mới tăng được gấp đôi .
Thời kỳ khó khăn đó được khắc đậm bởi phương thức sạ khô dưới đế cày, mà những đội máy kéo quốc doanh không thể nào phá đất được khi ruộng vẫn còn khô; bởi những ruộng lúa sạ rồi mà không bao giờ mọc; bởi ruộng lúa như đồng cỏ mênh mông vì không có thuốc diệt cỏ; bởi những nông dân bỏ ruộng lên đất cao trồng màu; bởi những nông dân không mặn mà với đồng ruộng khi buộc phải bỏ ruộng nhà đi gieo cấy trên ruộng người và trên hết là những đợt đo bồ trưng mua lúa đôi khi va chạm đến mức chết người.
Chủ trương cho trở về với đất gốc và cho tự do mua bán lúa gạo năm 1990 là bước khởi đầu để cho nông dân thực sự làm chủ mảnh đất và sản phẩm của mình, tạo sinh lực mạnh mẽ cho nông dân cải tạo ruộng đồng, chăm lo sản xuất tạo đà phát triển về sau.
Ngày 1 tháng 4 năm 1992, tỉnh Sóc Trăng được tái lập, cũng là lúc thế hệ các nhà khoa học Việt Nam từ Ấn Độ bắt đầu trở về Viện Lúa ĐBSCL và cũng là năm tỉnh Sóc Trăng hồi sinh mạnh mẽ. Năm 1994, cống Mỹ Phước - một công trình triệu đô - được khánh thành, mở đường cho đại công trường thủy lợi trên toàn tỉnh, làm sản lượng lúa tăng nhanh. Giai đoạn này chỉ cần nửa thời gian so với giai đoạn trước - 7 năm (1992 1999) để sản lượng lúa tăng gấp đôi.
Chủ trương mới cởi mở hơn, hóa chất được nhập về đầy đủ để bảo vệ cây lúa, giúp xóa tan những hủ tục mê tín dị đoan (như nông dân thắp nhang cúng tam tai ở đầu bờ ruộng lúa) mà đầu thập niên 90 bản thân tôi thấy nhan nhản trên các đồng lúa IR42 nhiễm bù lạch vàng cháy cả cánh đồng. Từ đầu thập niên 2000 đã bắt đầu xuất hiện ruộng lúa đạt 1 tấn/công ở xã Trường Khánh (Long Phú) và lan sang những xã khác. Điều đặc biệt là chủ những công ruộng tấn này hầu hết là ở lứa trung niên chứ không phải ở giới "lão nông tri điền". Điều đó khắc họa lớp thiếu niên lúc mới giải phóng biết tiếp thu khoa học đã làm nền tảng cho một cuộc gia tăng năng suất, sản lượng sau này, giúp cho Sóc Trăng cũng như Việt Nam trở thành nước có năng suất lúa cao nhất Đông Nam Á.
Mở cửa với thế giới, tiếp nhận thành tựu khoa học công nghệ, nông dân Sóc Trăng từng bước được giải phóng đôi vai, đôi tay. Đầu tiên là sức kéo cơ giới thay trâu, phụ nữ khỏi phải còm lưng cấy lúa nhổ cỏ, máy phun thuốc có ống dẫn dài đến 500m, rồi công việc cắt lúa, tuốt lúa nhọc nhằn đều được máy móc thay thế và sau cùng là khỏi phơi lúa, khỏi làm bồ ví lúa. Một cuộc giải phóng đến trên 80% sức lao động nhọc nhằn, cung cấp nhân lực cho công cuộc công nghiệp hóa đất nước. Năm 2005, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng nêu: "Ổn định sản lượng ở mức 1,7 triệu tấn lúa/năm, nhưng ngày càng nâng cao chất lượng". Đến năm 2010, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng lần thứ 12 lại nêu cụ thể hơn: "Đến năm 2015, lúa đặc sản chiếm ít nhất 20% diện tích gieo trồng".
Lùi về năm 1993, trong cảnh ngân sách thiếu trước hụt sau, Chủ tịch tỉnh đã chỉ đạo mua trên 600 tấn giống Khao Dawk Mali để hỗ trợ nông dân trồng lúa thơm. Như vậy, việc tái cơ cấu ngành lúa gạo theo hướng nâng cao giá trị, thu nhập cho nông dân tỉnh Sóc Trăng đã có điểm xuất phát trên 20 năm và đến hôm nay, gần kết thúc nhiệm kỳ 12, tỉnh Sóc Trăng đã vượt chỉ tiêu nghị quyết trở thành tỉnh lúa thơm đầu tiên của Việt Nam (theo tiêu chí của Bộ NN-PTNT).
Được soi đường bởi ý tưởng tái cơ cấu ngành lúa gạo của Đảng bộ tỉnh, cây lúa thơm bản địa (Tài Nguyên và ST) đã từng bước chiếm vị trí áp đảo về diện tích, giá trị và thu nhập nhờ giá trị gia tăng cao và chuỗi giá trị dài. Qua đó, giúp xây dựng lại lực lượng sản xuất thông qua liên kết nông hộ, xây dựng cánh đồng mẫu lớn và tạo lập quan hệ sản xuất mới giữa nông dân và doanh nghiệp thông qua các hợp đồng đầu tư và bao tiêu trên qui mô lớn. Phạm vi mà lúa thơm ST có địa bàn để phát triển một mô hình không chỉ trong tỉnh mà còn lan sang nhiều tỉnh khác ở khắp Đồng bằng sông Cửu Long. Đó là mô hình hợp đồng đầu tư tiêu thụ lúa theo giá thỏa thuận trước (trước đây chết giá nay uyển chuyển hơn để thích ứng với biến động thị trường). Với mô hình phát triển đó, một gia đình có 3ha đất đủ điều kiện nuôi một con học đại học, còn những gia đình có đất nhiều hơn có thể tích lũy làm giàu.
Rõ ràng, qua hơn 20 năm tái lập tỉnh, từ tầm nhìn của lãnh đạo, óc sáng tạo của các chuyên viên kỹ thuật, tính lao động cần cù, siêng học hỏi của nông dân, sự vận hành nhạy bén của nhiều lớp doanh nhân, cây lúa Sóc Trăng không những đã phục hồi vị trí vốn có khi xưa mà còn vươn xa ra khắp năm châu bốn biển.