29/08/2025 - 19:45

Giải pháp an toàn, thích ứng biến đổi khí hậu cho nuôi trồng, xuất khẩu thủy sản 

Diện tích nuôi trồng, sản lượng thu hoạch và xuất khẩu thủy sản ở ĐBSCL ngày càng tăng qua từng năm. Kết quả này là nhờ các địa phương có kế hoạch nuôi trồng phù hợp; công tác kiểm soát, xử lý, xây dựng vùng nuôi, chế biến an toàn và thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH).

Mô hình nuôi tôm nước lợ ứng dụng công nghệ cao phát triển tại địa phương ven biển của TP Cần Thơ.

Tác động của biến đổi khí hậu

Theo Cục Thủy sản (thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường - NN&MT), ĐBSCL là trung tâm sản xuất thủy sản lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 95% sản lượng cá tra và 70-80% sản lượng tôm. Hằng năm, hoạt động nuôi trồng thủy sản luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ NN&MT), các địa phương và sự tham gia tích cực của các hội, hiệp hội, sự nỗ lực của ngư dân, doanh nghiệp nên kết quả thực hiện đạt và vượt kế hoạch đề ra. Điển hình năm 2024, ĐBSCL có tổng diện tích nuôi tôm nước lợ đạt 749.800ha, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2023; sản lượng thu hoạch 1.290.500 tấn (tăng 15,3% so với cùng kỳ năm 2023); kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt 3,95 tỉ USD (tăng 14% so với năm 2023). Trong đó, thị trường xuất khẩu mạnh nhất là Hoa Kỳ, Trung Quốc và một số nước EU…

Tuy nhiên, theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, vùng ĐBSCL đang phải đối mặt với những rủi ro ngày càng gia tăng do tác động của BĐKH, đặc biệt là tình trạng xâm nhập mặn, sạt lở ven biển và suy giảm nguồn nước ngọt. Trong đó, thách thức từ BĐKH tác động đến nuôi trồng, khai thác thủy sản tại ĐBSCL khá nghiêm trọng. Nhiệt độ tăng, thời tiết cực đoan, nước biển dâng và suy giảm tầng ôzôn đang ảnh hưởng đến hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản. Những hiện tượng này làm gia tăng chi phí sản xuất, giảm năng suất và chất lượng sản phẩm, đe dọa đến sinh kế của hàng triệu người dân vùng ven biển.

Bên cạnh đó, áp lực từ thị trường quốc tế yêu cầu chứng nhận bền vững, nhãn sinh thái; các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản ngày càng đặt ra yêu cầu khắt khe hơn về tính bền vững của chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản cần đáp ứng các tiêu chuẩn như ASC, BAP, Global GAP và nhãn sinh thái. Ngoài ra, các quy định về truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải carbon và thân thiện môi trường đang trở thành điều kiện tiên quyết để duy trì và mở rộng thị phần…

Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, cho biết: “Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cùng với các nghị định và thông tư liên quan đã xác định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ôzôn và tham gia thị trường carbon. Việt Nam cũng đã đưa ra cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tại Hội nghị COP26, đòi hỏi tất cả các ngành, bao gồm thủy sản phải đẩy mạnh quá trình chuyển đổi xanh. Việc ứng dụng các công nghệ sản xuất xanh và chế biến thân thiện với khí hậu không chỉ giúp doanh nghiệp tuân thủ quy định, nâng cao khả năng cạnh tranh, mà còn đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ tầng ôzôn, tiết kiệm năng lượng và ứng phó với BĐKH một cách bền vững”.

Tại TP Cần Thơ, từ đầu năm đến nay, ngành Thủy sản đã triển khai nhiều giải pháp phát triển nuôi trồng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, thích ứng BĐKH. Địa phương thường xuyên thực hiện công tác quan trắc môi trường nhằm đưa ra các khuyến cáo kịp thời phục vụ cho người nuôi, cấp 7.560 giấy xác nhận đăng ký nuôi trồng thủy sản lồng bè, đối tượng thủy sản nuôi chủ lực; 32 giấy chứng nhận an toàn thực phẩm đối với vùng nuôi trồng thủy sản. Thực hiện công tác quản lý tàu cá và cơ sở hậu cần nghề cá; quản lý hoạt động thủy sản, tuyên truyền, vận động người dân cam kết không vi phạm nghề, sử dụng ngư cụ cấm trong khai thác thủy sản; quản lý, giám sát tàu cá khai thác hải sản trái phép ở vùng biển nước ngoài...

Trong 7 tháng năm 2025, thành phố có tổng diện tích nuôi thủy sản 64.339ha, tăng 4,51% so với cùng kỳ năm 2023. Tổng sản lượng thủy sản thu hoạch ước đạt 362.133 tấn, tăng 7,66% so với năm trước... Ngành Thủy sản thành phố tiếp tục hỗ trợ người dân, doanh nghiệp phát triển nuôi trồng thủy sản an toàn, hiệu quả trong những tháng cuối năm 2025.  

Tập trung ứng phó

Ông Nguyễn Hoài Nam cho biết: “Trong bối cảnh toàn cầu ngày càng đề cao các tiêu chí về môi trường và phát triển bền vững, chuyển đổi xanh trong nuôi trồng, chế biến thủy sản xuất khẩu không còn là lựa chọn, mà là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu thủy sản. Doanh nghiệp không đáp ứng được các yêu cầu về môi trường, phát thải carbon, hoặc không minh bạch trong chuỗi cung ứng sẽ gặp rào cản lớn khi xuất khẩu, đặc biệt là vào các thị trường cao cấp. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp tiên phong áp dụng công nghệ xanh, giảm phát thải và tuân thủ quy định quốc tế sẽ có lợi thế trong đàm phán thương mại, giá bán và mở rộng thị phần”.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 là nền tảng pháp lý quan trọng thúc đẩy phát triển thủy sản bền vững, đồng thời định hướng các hoạt động thích ứng BĐKH, giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ôzôn và xây dựng thị trường carbon tại Việt Nam. Để thực thi Luật, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP được ban hành nhằm quy định chi tiết các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ôzôn, quản lý các chất được kiểm soát và triển khai các biện pháp phù hợp với cam kết quốc tế của Việt Nam. Thông tư số 01/2022/TT-BTNMT hướng dẫn cụ thể nội dung kỹ thuật như danh mục chất được kiểm soát, yêu cầu kiểm kê khí nhà kính theo ngành và lĩnh vực, kỹ thuật giám sát, đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải…

Để thực hiện cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Chính phủ cũng quy định chi tiết về trách nhiệm báo cáo định kỳ của các doanh nghiệp sử dụng môi chất lạnh, danh mục và giới hạn sử dụng các chất được kiểm soát theo giá trị tiềm năng làm nóng lên toàn cầu, hướng dẫn kỹ thuật về thu gom, lưu giữ, tái sử dụng và xử lý môi chất lạnh đã qua sử dụng. Các văn bản cũng nhấn mạnh nghĩa vụ chuyển đổi công nghệ, chuyển đổi xanh trong sản xuất, chế biến thủy sản.

Tuy nhiên, khó khăn trong quá trình chuyển đổi của doanh nghiệp, ngư dân hiện nay là chi phí đầu tư cao, thiếu vốn và khó tiếp cận tài chính xanh; thiếu nhân sự kỹ thuật chuyên sâu, quy định chưa đồng bộ. Một số doanh nghiệp lúng túng trong việc xác định trách nhiệm và lộ trình chuyển đổi. Việc thiếu ưu đãi rõ ràng về thuế, hải quan, tín dụng... dành cho công nghệ thân thiện với môi trường khiến nhiều doanh nghiệp e ngại đầu tư và chờ đợi chính sách cụ thể hơn.

Tại hội thảo về thực trạng và ứng phó BĐKH tại Việt Nam mới đây, ông Nguyễn Hoài Nam nhận định: “Việc chuyển đổi nuôi trồng, chế biến xanh, sử dụng các hệ thống lạnh và dây chuyền chế biến thân thiện với tầng ôzôn và khí hậu không chỉ giúp doanh nghiệp tuân thủ quy định pháp lý trong nước, cam kết quốc tế, mà còn tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, nhất là tại các quốc gia có tiêu chuẩn khắt khe như EU, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Đồng thời, chuyển đổi xanh còn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, từ giảm chi phí vận hành đến nâng cao giá trị thương hiệu và sản phẩm”.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hoài Nam, quá trình chuyển đổi cũng đi kèm với nhiều thách thức, đòi hỏi sự hỗ trợ từ Nhà nước, tổ chức ngành nghề và cộng đồng quốc tế về chính sách, tài chính, đào tạo và chuyển giao công nghệ. Các đơn vị chuyên môn, quản lý nhà nước cần phối hợp, hỗ trợ doanh nghiệp hợp tác và sáng tạo trong chuyển đổi sản xuất, nuôi trồng, chế biến thủy sản ứng dụng công nghiệp xanh, tận dụng tốt các cơ hội chuyển đổi, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu phát triển thủy sản bền vững, bảo vệ môi trường, ứng phó hiệu quả với BĐKH.

Bài, ảnh: HÀ VĂN

 

Chia sẻ bài viết