23/05/2008 - 23:07

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh "dùng người"

“Dùng người” bao giờ cũng là một vấn đề lớn của lịch sử. Các bậc minh quân, các nhà kinh bang tế thế từ xưa tới nay đều coi trọng việc tìm kiếm, phát hiện, lựa chọn, đào tạo và trân trọng sử dụng những người tài đức xứng đáng với tầm vóc của họ. Dùng người đúng hay sai không chỉ quyết định sự thành bại của một công việc, một phong trào mà có khi còn ảnh hưởng tới sự tồn vong của một sự nghiệp, một quốc gia.

Bằng những hành động cụ thể trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập những quan điểm cơ bản về việc dùng người và đã thực hiện việc dùng người với tinh thần thực sự cách mạng và khoa học. Dùng người thực chất là phát huy mọi tiềm năng của nhân tố con người, huy động được toàn bộ nguồn nhân lực, thúc đẩy nó phát triển tạo ra sức mạnh tổng hợp cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh.

Từ năm 1947, khi nền dân chủ cộng hòa non trẻ vừa ra đời và còn đang đối mặt với muôn vàn thử thách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo về bệnh hẹp hòi trong tư tưởng tổ chức cán bộ của hệ thống Đảng và Nhà nước. Người khẳng định: “Bệnh này rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên còn mắc phải. Trong, thì ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết. Ngoài, thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân... Có những cán bộ chỉ thấy lợi ích bộ phận mình, không thấy lợi ích của toàn thể, muốn đem lợi ích của toàn thể phục vụ lợi ích của bộ phận mình”. Bệnh hẹp hòi trong tư tưởng tổ chức cán bộ về cơ bản xuất phát từ động cơ phục vụ cho những lợi ích cục bộ, cho danh vọng và địa vị cá nhân. Cho nên theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã xảy ra không ít hiện tượng khi cán bộ được giao trọng trách đứng đầu bộ phận nào thì lôi người này, kéo người khác, ai ưa thì kéo vào, không ưa thì tìm cách đẩy ra. Bệnh hẹp hòi trong tư tưởng tổ chức cán bộ kéo dài lâu ngày không cứu chữa kịp thời dễ dẫn tới tình trạng kiêu ngạo, tự tôn cho rằng mình, bộ phận mình, nhóm lợi ích của mình là trên hết, coi khinh, hoặc không muốn nhìn thấy ưu điểm của những người khác, của các nhóm lợi ích khác. Và đó chính là “bệnh hẹp hòi hạng nặng”, cần phải được cứu chữa ngay lập tức nếu không sẽ rất nguy hiểm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ân cần thăm hỏi bác Tám Danh, nghệ sĩ cải lương Nam bộ (tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ 3). Ảnh: TL 

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, những cán bộ mắc phải “bệnh hẹp hòi hạng nặng” đã quên rằng chỉ đoàn kết trong Đảng, cách mạng cũng không thể thành công được, còn phải đoàn kết với nhân dân cả nước. Cũng vì bệnh hẹp hòi mà họ đã không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm hết, ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi. Cũng vì bệnh hẹp hòi mà họ đã không biết cách cư xử với các đồng bào (như tôn giáo, quốc dân thiểu số, anh em trí thức, các quan lại cũ...). Họ quên rằng so với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm được gì hết. Vì vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cần phải chân thành hợp tác với những người ngoài Đảng, không được khinh rẻ, phân biệt đối xử, chê bai họ. Bởi vì nếu rời xa nhân dân thì Đảng sẽ cô độc. Mà cô độc thì nhất định sẽ thất bại. Vì tính chất nguy hiểm của nó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xem bệnh hẹp hòi trong tư tưởng tổ chức cán bộ như là một kẻ địch từ bên trong. Người nhấn mạnh: “Mỗi kẻ địch bên trong là bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó”.

Trong những ngày đầu tiên thành lập chính quyền dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng việc tập hợp đội ngũ hiền tài của đất nước không phân biệt thành phần, giai cấp. Chính phủ cách mạng do Người lãnh đạo thời đó đã tập hợp được nhiều trí thức tiêu biểu hàng đầu. Họ đã gạt sang một bên cuộc sống vật chất no đủ, những băn khoăn, lo âu của riêng mình để sống cùng cuộc đấu tranh chung của dân tộc, đi theo kháng chiến, đi theo Cụ Hồ vì “điều mấu chốt là Chủ tịch Hồ Chí Minh áp dụng chính sách tín nhiệm đối với trí thức” – như lời luật sư Phan Anh trả lời phỏng vấn nhà sử học Na Uy S. Tonnesson về thời kỳ 1945-1946.

Luật sư Phan Anh trước nguyên là Bộ Trưởng Thanh Niên trong Chính phủ Trần Trọng Kim. Sau tháng 8-1945, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ Hồ Chí Minh cùng nhiều vị khác đã từng giữ những chức vụ cao trong chính quyền cũ như Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, Thượng thư bộ Hình Bùi Bằng Đoàn. Có thể kể thêm nhiều trí thức lớn khác đương thời đã theo Chính phủ Hồ Chí Minh tham gia kháng chiến như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Dương Đức Hiền, Hồ Đắc Di, Hoàng Tích Trí, Phạm Quang Lễ (GS Trần Đại Nghĩa), Nguyễn Văn Huyên, Trần Hữu Tước, Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Phạm Ngọc Thạch...

Hơn năm trăm năm trước, Thân Nhân Trung đã từng viết lên tấm bia đá đầu tiên trong Văn Miếu Thăng Long (1484): “Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh đi lên...”. Lời dạy đó của tiền nhân và tư tưởng Hồ Chí Minh về “dùng người” thật là những bài học không bao giờ cũ và hãy còn hết sức thấm thía cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

HỮU NGUYÊN (Theo Báo Đại Đoàn Kết)

Chia sẻ bài viết