29/05/2026 - 07:59

Bệnh viện Ung bướu TP Cần Thơ

Bước tiến mới trong nghiên cứu, điều trị ung thư khẩu hầu 

Bệnh viện Ung bướu TP Cần Thơ vừa hoàn thành đề tài “Nghiên cứu tình hình nhiễm HPV và sự ảnh hưởng đến kết quả điều trị trong ung thư khẩu hầu tại Bệnh viện Ung bướu TP Cần Thơ” và được Hội đồng khoa học TP Cần Thơ nghiệm thu, đánh giá cao. Kết quả của đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tiễn phục vụ cho việc chẩn đoán và điều trị ung thư khẩu hầu tại Cần Thơ nói riêng và cả nước nói chung.

Bác sĩ khám bệnh, tư vấn cho bệnh nhân. Ảnh: Bệnh viện cung cấp

Đề tài do Bệnh viện Ung bướu TP Cần Thơ thực hiện từ tháng 5-2022 đến tháng 4-2026; BS.CKII Trần Thanh Phong là Chủ nhiệm và ThS.BS Trần Thị Hương Lý đồng chủ nhiệm. Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên tại khu vực ĐBSCL chuyên sâu về ung thư khẩu hầu.

Ung thư biểu mô tế bào gai vùng khẩu hầu (oropharyngeal squamous cell carcinoma-OPSCC) là một trong những ung thư vùng đầu cổ có xu hướng gia tăng rõ rệt trong những thập kỷ gần đây (năm 2022, ghi nhận khoảng 106.400 ca mắc mới và 52.305 ca tử vong trên toàn thế giới). Tại Việt Nam, số liệu dịch tễ chuyên biệt cho ung thư khẩu hầu và OPSCC hiện còn hạn chế, chủ yếu được ghi nhận gián tiếp trong các nghiên cứu về ung thư vùng đầu cổ, chưa có nhiều báo cáo chuyên sâu riêng cho OPSCC.

Về cơ chế bệnh sinh của OPSCC liên quan HPV (Human papillomavirus), các protein điều hòa chu kỳ tế bào như p16, p53 và pRb giữ vai trò trung tâm. Nhiễm HPV type nguy cơ cao dẫn đến rối loạn chức năng p16, p53 và pRb thông qua hoạt động của các protein sinh ung của virus, từ đó thúc đẩy quá trình sinh ung và ảnh hưởng đến đáp ứng điều trị.

Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài thực hiện nghiên cứu toàn diện nhằm đánh giá tình hình nhiễm HPV; biểu hiện các protein p16, p53, pRb; tìm hiểu mối liên quan của các yếu tố này với kết quả điều trị ở bệnh nhân ung thư khẩu hầu. Nghiên cứu được thực hiện trên 127 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gai vùng khẩu hầu, được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Ung bướu TP Cần Thơ, vị trí u nhiều nhất ở amiđan. Từ đó, đánh giá kết quả đáp ứng điều trị, tái phát, tiến triển và sống còn của các bệnh nhân.

Nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật xét nghiệm hiện đại gồm real-time PCR (xác định HPV type nguy cơ cao - HR-HPV) và hóa mô miễn dịch (khảo sát biểu hiện của p16, p53, pRb), theo dõi đáp ứng điều trị và sống còn nhằm cung cấp dữ liệu toàn diện về đặc điểm bệnh học và tiên lượng của nhóm bệnh lý này.

BS.CKII Trần Thanh Phong, Chủ nhiệm đề tài, cho biết: “Kết quả ghi nhận tỷ lệ nhiễm HR-HPV ở bệnh nhân ung thư khẩu hầu tương đối cao, trong đó HPV16 là type thường gặp nhất. Tỷ lệ p16 dương tính là 37%, p53 âm tính là 60,6% và pRb âm tính chiếm 59,1%. Nghiên cứu ghi nhận có mối liên quan giữa HR-HPV với p16 dương tính và pRb âm tính. Các bệnh nhân HR-HPV dương tính có tỷ lệ biểu hiện p16 cao hơn và giảm biểu hiện pRb nhiều hơn so với nhóm HR-HPV âm tính. Những kết quả này phù hợp với xu hướng dịch tễ học của ung thư khẩu hầu liên quan HPV trên thế giới, góp phần làm rõ hơn cơ chế sinh học phân tử của ung thư khẩu hầu liên quan HPV tại Việt Nam”.

Bên cạnh đó, đề tài còn khảo sát kết quả đáp ứng điều trị, theo dõi tái phát, tiến triển và sống còn của bệnh nhân. Kết quả cho thấy, nhóm bệnh nhân HR-HPV dương tính có xu hướng đáp ứng điều trị tốt hơn và có thời gian sống còn dài hơn so với nhóm HR-HPV âm tính. Ngoài ra, biểu hiện p16 dương tính và pRb âm tính cũng có liên quan với khả năng đạt đáp ứng hoàn toàn sau điều trị. Các phân tích đa biến cho thấy HR-HPV có giá trị tiên lượng độc lập đối với sống còn bệnh không tiến triển và sống còn toàn bộ.

Hiện nay, trên thế giới, tình trạng nhiễm HPV và biểu hiện p16 đã được các hiệp hội về ung thư trên thế giới như AJCC, NCCN, ASCO khuyến cáo đánh giá thường quy trong chẩn đoán, phân tầng nguy cơ và tiên lượng cho bệnh nhân ung thư khẩu hầu. Tuy nhiên, tại Việt Nam, trong các phác đồ điều trị ung thư đầu cổ do Bộ Y tế ban hành, việc đánh giá tình trạng nhiễm HPV và biểu hiện p16 vẫn chưa được triển khai thường quy trong thực hành lâm sàng đối với bệnh nhân ung thư khẩu hầu. Do đó, kết quả của đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tiễn phục vụ cho định hướng triển khai các xét nghiệm này tại Bệnh viện Ung bướu TP Cần Thơ nói riêng và tại Việt Nam nói chung.

Thông qua các kết quả nghiên cứu, Ban Chủ nhiệm đề tài sẽ từng bước kiến nghị việc áp dụng xét nghiệm HR-HPV và p16 như một xét nghiệm thường quy đối với bệnh nhân ung thư khẩu hầu. Việc triển khai thường quy các xét nghiệm này sẽ góp phần phân tầng nguy cơ, đánh giá tiên lượng và theo dõi đáp ứng điều trị. Qua đó, nâng cao chất lượng chẩn đoán, hỗ trợ cá thể hóa điều trị và tối ưu hóa hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

LỆ THU

Chia sẻ bài viết