22/12/2010 - 21:08

Phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn

Biệt đãi từ "nhà băng"

Hiện nay, hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng đã và đang phát triển rất mạnh mẽ và rộng khắp, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Đặc biệt, trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn (NNNT), cùng với nỗ lực của Chính phủ, hệ thống các tổ chức tín dụng tiếp tục có nhiều chính sách biệt đãi, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, phát triển.

“NHÀ BĂNG” NHẬP CUỘC

 Nông nghiệp - nông thôn rất cần nguồn vốn hỗ trợ của “nhà băng” để đầu tư phát triển.
 Trong ảnh: Thu hoạch cá tra tại TP Cần Thơ.

Nếu như cuối năm 1998, dư nợ tín dụng đối với khu vực NNNT mới chỉ đạt 34.000 tỉ đồng. Đến tháng 12-2009, con số này đã tăng hơn 9 lần (khoảng 292.919 tỉ đồng) và tăng hơn 10 lần (khoảng 350.315 tỉ đồng) tính đến tháng 9-2010. Tỷ lệ dư nợ cho vay lĩnh vực NNNT so với dư nợ cho vay nền kinh tế bình quân đạt trên 20%. Tiến sĩ Đào Minh Tú, Chánh văn phòng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhận định: Nguồn vốn tín dụng đã thật sự “chảy” vào khu vực sản xuất hàng hóa vùng nông thôn và đã mang lại hiệu quả kinh tế. Các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng đã giúp hàng chục ngàn hộ nông dân đẩy mạnh sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và tiếp tục mở rộng ngành nghề, góp phần làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống nông dân. Nhờ mở rộng đầu tư tín dụng, cùng với vốn tự có và sức lao động đã giúp người nông dân khai thác tiềm năng kinh tế, từng bước hình thành các vùng chuyên canh, hoa màu và cây công nghiệp có tỷ suất hàng hóa cao...

Hiện nay, mạng lưới cho vay NNNT phát triển rộng khắp. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cung cấp tín dụng cho NNNT với hơn 2.200 chi nhánh, phòng giao dịch trên cả nước thông qua trên 228.400 tổ vay vốn do Hội Nông dân thành lập và quản lý. Agribank đã có trên 7 triệu lượt hộ nông dân vay vốn phát triển sản xuất với tổng dư nợ đạt trên 40.000 tỉ đồng; cho vay 1.157 tỉ đồng cho hộ gia đình mua 5.790 xe ô tô các loại thay thế phương tiện vận chuyển thô sơ, ổn định sản xuất, kinh doanh cho hộ dân vùng nông thôn. Ngoài Agribank, Ngân hàng Chính sách Xã hội với hơn 600 chi nhánh cấp huyện, hợp đồng ủy thác với 4 tổ chức chính trị - xã hội thông qua trên 8.640 điểm giao dịch cấp xã, khoảng 200.000 tổ tiết kiệm cho các hội viên (các hộ nghèo) vay với số tiền đến 27.463 tỉ đồng. Đặc biệt, Quỹ tín dụng nhân dân với hơn 1.050 quỹ tín dụng cơ sở đang hoạt động ở 56/63 tỉnh, thành phố, chủ yếu là khu vực nông thôn, cho khoảng 1,4 triệu thành viên tham gia vay vốn với dư nợ đạt gần 22.000 tỉ đồng. Ngoài ra, nhiều ngân hàng thương mại, thương mại cổ phần... cũng đã, đang và sẽ chọn khu vực nông thôn là địa bàn quan trọng để phát triển dư nợ cho vay như: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng Liên Việt (LienVietBank)...

ĐỂ KHƠI THÔNG VỐN

Tính đến tháng 11-2010, dự nợ cho vay NNNT của Vietinbank đạt gần 40.000 tỉ đồng, chiếm 18% tổng dư nợ cho vay. Trong đó, dư nợ trung hạn chiếm trên 40%. Dự kiến, dư nợ cho vay của Vietinbank đối với khu vực NNNT sẽ tăng mạnh mẽ cả về số tuyệt đối và tương đối. Tuy nhiên, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietinbank - Tiến sĩ Phạm Huy Hùng, cho rằng: Nếu đánh giá một cách toàn diện thì hoạt động của Vietinbank trong khu vực NNNT còn nhiều hạn chế. Dư nợ tín dụng NNNT chủ yếu tập trung vào khâu chế biến, tiêu thụ, khâu sản xuất còn rất khiêm tốn. Đầu tư đổi mới khoa học công nghệ, hiện đại hóa quy trình sản xuất kinh doanh theo chiều sâu, với những dịch vụ có giá trị gia tăng cao... còn nhiều hạn chế. Thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa NNNT với các lĩnh vực tín dụng khác của Vietinbank để có thể tạo rao chuỗi giá trị, khai thác tối đa giá trị gia tăng và hướng tới sự an toàn của các đối tượng khách hàng.

Là đơn vị dẫn đầu trong việc đầu tư vào NNNT, nhưng về việc đầu tư của các tổ chức tín dụng, ông Phạm Thành Tân, Tổng Giám đốc Agribank, nhận định: Suất đầu tư của các tổ chức tín dụng chưa phù hợp với nhu cầu vốn của một đơn vị diện tích cây, con. Cơ chế tín dụng, thanh toán, sản phẩm dịch vụ cung ứng cho nền kinh tế nói chung, cho nông nghiệp nói riêng chưa thật sự linh hoạt. Tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng còn rất nhỏ so với nhu cầu và tiềm năng phát triển cho khu vực NNNT. Trong khi đó, việc phân bổ nguồn vốn này lại thiếu trọng tâm, trọng điểm chưa phù hợp với sự phát triển của vùng. Bên cạnh đó, sự bất cập, thiếu ổn định, thiếu đồng bộ của các cơ chế, chính sách... đối với khu vực NNNT đã và đang gây rất nhiều khó khăn cho các tổ chức tín dụng khi đầu tư vào NNNT...

Theo ông Phạm Thành Tân, hiện nay, nhu cầu vốn cho NNNT ngày càng lớn. Tuy nhiên, là định chế tài chính chủ lực đối với NNNT nhưng Agribank không thể đáp ứng được nhu cầu vừa nêu. Vì vậy, NHNN và Chính phủ cần có quỹ phát triển chi cho lĩnh vực này theo hình thức vay vòng, trong đó đặc biệt là dòng vốn trung và dài hạn. Ngoài ra, chính quyền các cấp, các cơ quan có liên quan cần khẩn trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận đối với các chủ trang trại... hoàn tất cả thủ tục pháp lý để doanh nghiệp, người dân khu vực nông thôn tiếp cận các nguồn vốn tín dụng. Ngoài các vấn đề trên, Tiến sĩ Phạm Huy Hùng, cho rằng: Cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng cơ chế bảo hiểm rủi ro trong việc cho vay phát triển kinh tế NNNT và cho vay hỗ trợ xuất khẩu. Đồng thời, thiết lập hệ thống thông tin về thị trường, giá cả, dự báo giá cả giúp nông dân, doanh nghiệp có hướng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Đây là yêu cầu cấp thiết và chính đáng của doanh nghiệp, hộ nông dân và cả các tổ chức tín dụng.

BIỆT ĐÃI CHO NNNT

Ngày 30-3-1999, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg về chính sách tín dụng phục vụ NNNT. Ngày 12-4 -2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển NNNT thay thế Quyết định 67/1999/QĐ-TTg. Đây được xem là một bước tiến quan trọng trong chính sách, thu hút nguồn vốn phát triển NNNT. Theo đó, so với trước đây, vấn đề nguồn vốn cho vay NNNT được quy định đầy đủ hơn, đặc biệt các nguồn vốn ủy thác của Chính phủ hằng năm cho vay NNNT (thông qua các tổ chức tín dụng và nguồn vốn được hình thành do việc sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Đặc biệt, thông qua các công cụ chính sách khác nhau, nhà nước sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động đầu vào và khuyến khích cho vay người nông dân ở mức lãi suất hợp lý...

Ngoài việc tiếp tục thực hiện các nội dung của Nghị định nêu trên, ông Phạm Thành Tân, Tổng Giám đốc Agribank, cho biết: Định hướng đến năm 2020, Agribank tiếp tục giữ vững và phát huy là một ngân hàng thương mại nhà nước có vai trò chủ đạo, chủ lực trên thị trường tài chính, tiền tệ ở nông thôn. Agribank sẽ tập trung toàn bộ hệ thống và bằng mọi biện pháp để huy động tối đa nguồn vốn trong và ngoài nước nhằm chủ động nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Theo đó, đảm bảo tỷ lệ dư nợ trong lĩnh vực này chiếm trên 70%/tổng dư nợ; trong đó, dư nợ cho vay hộ gia đình khoảng 55% và mức dư nợ bình quân/hộ tăng dần và đạt 50 triệu đồng/hộ vào năm 2020.

Biệt đãi cho NNNT, năm 2010, LienVietBank xây dựng đề án “Đầu tư tín dụng phát triển NNNT vùng ĐBSCL trong năm 2010 và định hướng đến năm 2013”. Tiến sĩ Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch Thường trực LienVietBank, cho biết: Đề án này nhằm thực hiện chính sách gắn doanh nghiệp với nông dân, cho vay khép kín đảm bảo liên kết các nhà sản xuất, chế biến, nhà xuất khẩu với nông dân, giúp nông dân sản xuất lương thực có lãi trên 30%. Khách hàng cá nhân trên địa bàn tỉnh Hậu Giang khi vay được áp dụng mức lãi suất bằng lãi suất của Agribank tại cùng thời điểm. Ngoài ra, khách hàng sẽ được hưởng hỗ trợ lãi suất ưu đãi 1%/năm/tổng dư nợ vào ngày đáo hạn nếu khách hàng thanh toán đầy đủ gốc và lãi đúng hạn. Đến hết tháng 11-2010, tổng dư nợ Đề án đạt 3.669 tỉ đồng, chủ yếu tập trung tại hai vựa lúa lớn nhất của Việt Nam là ĐBSCL (61,9%) và Đồng bằng sông Hồng (34,44%). Đã có trên 15.000 hộ nông dân của ĐBSCL được hưởng lợi từ Đề án này. Theo LienVietBank. Thời gian tới, LienVietBank sẽ triển khai Đề án đến hết các tỉnh, thành vùng ĐBSCL với tổng dư nợ 3.000 - 5.000 tỉ đồng. Trong đó, dư nợ cho hộ nông dân đạt 500 tỉ đồng. Đề án này hứa hẹn mở ra thêm triển vọng mới để doanh nghiệp, hộ dân vùng nông thôn tiếp cận nguồn vốn tín dụng đầu tư, phát triển sản xuất góp phần phát triển kinh tế NNNT.

Bài, ảnh: HÀ TRIỀU

Chia sẻ bài viết