14/01/2026 - 08:50

Niềm tin vững, khát vọng lớn

Bài 10: Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại 

Trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII của Đảng, ngành công nghiệp quốc phòng (CNQP) đã nỗ lực bứt phá, quyết liệt triển khai toàn diện các mặt công tác, hoàn thành nhiều nhiệm vụ lớn, phức tạp và nghiên cứu, sản xuất thành công nhiều chủng loại vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) hiện đại, có ý nghĩa chiến lược, góp phần quan trọng đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó khăn, thách thức nhiều hơn thuận lợi, đặc biệt là tác động của đại dịch Covid-19, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, các nước tăng cường chạy đua quân sự, hạn chế chuyển giao công nghệ sản xuất VKTBKT hiện đại, nhất là các loại VKTBKT có ý nghĩa chiến lược; trên cơ sở quán triệt và triển khai thực hiện hiệu quả chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, ngành CNQP với quyết tâm chính trị rất cao, nỗ lực rất lớn, đã khắc phục những khó khăn, chủ động, sáng tạo triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp, đạt được nhiều thành tựu nổi bật, có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển bền vững của ngành.

Tổng Bí thư Tô Lâm trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân tặng Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, ngày 15-9-2025. Ảnh: MINH TUẤN

Tổng cục CNQP đã chủ động thực hiện tốt công tác nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng báo cáo Bộ Chính trị tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 16-7-2011 và ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26-1-2022 về đẩy mạnh phát triển CNQP đến năm 2030 và những năm tiếp theo, làm "kim chỉ nam" đẩy mạnh phát triển CNQP gắn với xây dựng Quân đội hiện đại và phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong giai đoạn cách mạng mới. Trên cơ sở đó, xây dựng và trình ban hành nhiều đề án về phát triển các loại VKTBKT có ý nghĩa chiến lược để các cơ quan, đơn vị trong toàn quân chủ động phối hợp chặt chẽ, tổ chức thực hiện hiệu quả.

Hệ thống pháp luật về CNQP được hoàn thiện đồng bộ, mở đường, dẫn dắt, kiến tạo để CNQP phát triển nhanh và bền vững. Luật CNQP, an ninh và động viên công nghiệp cùng các văn bản hướng dẫn thi hành luật đã tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, minh bạch và khả thi, là cơ sở huy động tổng thể mọi nguồn lực để đẩy mạnh quá trình phát triển nền CNQP Việt Nam tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại.

Một trong những điểm đột phá của Luật CNQP, an ninh và động viên công nghiệp là đã tháo gỡ được những rào cản để doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu rộng vào các hoạt động của CNQP, lĩnh vực được xem là rất đặc thù, nhạy cảm và có yêu cầu rất cao; đánh dấu bước chuyển từ cơ chế vận động - phối hợp sang cơ chế luật hóa-hợp đồng hóa-kiểm soát được.

Khách nước ngoài tham quan khu trưng bày các sản phẩm công nghiệp quốc phòng Việt Nam tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam năm 2024. Ảnh: LIÊN VIỆT

Công tác nghiên cứu khoa học, phát triển các loại VKTBKT đạt được những bước tiến vượt bậc, đột phá về công nghệ, khẳng định năng lực tự chủ nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, hiện đại hóa VKTBKT có ý nghĩa chiến lược. Các đơn vị CNQP đã làm chủ nhiều công nghệ nền, công nghệ lõi trong chế tạo, sản xuất các loại vũ khí hiện đại, công nghệ cao, có khả năng tự động điều khiển, tầm bắn và uy lực sát thương lớn, đưa Việt Nam vào danh sách quốc gia có thể tự chủ sản xuất các loại vũ khí, khí tài hiện đại.

Cùng với nghiên cứu thiết kế, chế tạo, chúng ta đã cải tiến thành công nhiều tổ hợp vũ khí, trang bị với tính năng chiến-kỹ thuật ưu việt hơn. Từ đó, việc bảo đảm VKTBKT cho Quân đội đã chuyển từ mua sắm, lắp ráp là chính sang làm chủ nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sản xuất trong nước, giảm nhập khẩu, tiết kiệm ngân sách nhà nước; trong đó, nhiều chủng loại VKTBKT mới có chất lượng vượt trội hoặc tương đương các sản phẩm cùng loại trên thế giới.

Việc phát triển CNQP theo hướng lưỡng dụng được quan tâm đẩy mạnh, đạt hiệu quả thiết thực. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp CNQP nòng cốt có sự chuyển biến rõ rệt, nhiều doanh nghiệp xây dựng được thương hiệu, chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước; thị trường xuất khẩu được mở rộng, các sản phẩm lưỡng dụng ngày càng đa dạng, nhất là trong các lĩnh vực: Điện tử-viễn thông, sản xuất pháo hoa, vật liệu nổ công nghiệp, đóng tàu, cơ khí, may mặc, điện tử, quang học...

Doanh thu toàn ngành CNQP trong 5 năm trở lại đây tăng trưởng bình quân hằng năm khoảng 13%; tổng doanh thu năm 2025 tăng 2 lần so với năm 2020; tỷ trọng doanh thu kinh tế của hầu hết các doanh nghiệp chiếm trên 60% tổng doanh thu. Chính nhờ sự tăng trưởng này, các doanh nghiệp đã có tích lũy, tái đầu tư phát triển và đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước.

Hợp tác quốc tế về CNQP được tiến hành chủ động, linh hoạt, có chọn lọc, mang lại hiệu quả thiết thực, trở thành nội dung quan trọng trong hợp tác quốc phòng, đối ngoại quân sự. Đã mở rộng nội dung, hình thức hợp tác với nhiều nước có nền CNQP hiện đại, phát triển và bước đầu xuất khẩu các chi tiết, bán thành phẩm VKTBKT, tiến tới xuất khẩu những sản phẩm nguyên chiếc do CNQP Việt Nam sản xuất.

Công tác xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm được triển khai tích cực; đặc biệt, đã tổ chức thành công các kỳ Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam (năm 2022 và 2024), qua đó quảng bá năng lực CNQP Việt Nam với bạn bè quốc tế và nhân dân, mở ra cơ hội hợp tác với các nước có nền CNQP hiện đại để nghiên cứu, phát triển một số lĩnh vực sẽ là động lực quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước thời gian tới, như: Trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, sản xuất chip, các phương tiện không người lái gắn với phát triển kinh tế tầm thấp...

Nhiều trang bị, khí tài hiện đại do công nghiệp quốc phòng Việt Nam sản xuất tham gia luyện tập, làm nhiệm vụ diễu binh, diễu hành trong các dịp đại lễ của đất nước. Ảnh: TUẤN HUY

Những kết quả đạt được nêu trên là luận cứ quan trọng để Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII xác định phát triển CNQP là một trong 3 khâu đột phá trong nhiệm kỳ 2025-2030 và xây dựng Quân đội tiến thẳng lên hiện đại từ năm 2026, sớm hơn so với yêu cầu một nhiệm kỳ.

Những năm tới, hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó đoán định; chiến tranh thương mại, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; xung đột, chiến tranh diễn ra ở nhiều khu vực với nhiều hình thái và phương thức mới; việc hợp tác khoa học kỹ thuật quân sự của Việt Nam với các đối tác truyền thống gặp nhiều khó khăn.

Thực tế những năm qua cho thấy, không phải nước nào có tiền cũng mua được vũ khí hiện đại và có mua được cũng rất lệ thuộc vào nước ngoài; đặc biệt, không phải loại vũ khí hiện đại nào mua được cũng phù hợp với phương thức, điều kiện tác chiến của từng nước. Từ đó đặt ra những yêu cầu mới, cấp thiết đối với ngành CNQP. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã xác định chủ đề năm 2026 là: Quyết tâm nghiên cứu, sản xuất VKTBKT tiên tiến, hiện đại.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, trọng tâm là đột phá phát triển CNQP tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, ngành CNQP xác định “nỗ lực hơn, quyết tâm hơn, chủ động hơn, sáng tạo hơn, hiệu quả hơn” trong tổ chức triển khai thực hiện 4 nhiệm vụ trụ cột sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phát triển CNQP; tập trung tháo gỡ các hạn chế, bất cập trong thực hiện pháp luật có liên quan về khoa học-công nghệ; về vốn, thủ tục đầu tư; thu hút, trọng dụng nhân tài; huy động doanh nghiệp tư nhân tham gia phát triển CNQP... Tổ chức, sắp xếp lại các cơ sở CNQP nòng cốt nhằm xây dựng các doanh nghiệp CNQP, các tổ hợp CNQP mạnh về cả quy mô và tiềm lực, hiện đại, tiên phong dẫn dắt công nghiệp quốc gia trên một số lĩnh vực thế mạnh. Nghiên cứu áp dụng kinh nghiệm của các nước trong việc ưu tiên chính sách đặc thù nhất, nguồn lực lớn nhất, công nghệ cao nhất trước hết cho CNQP, từ đó lan tỏa cho công nghiệp quốc gia.

Thứ hai, đột phá phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nghiên cứu, sản xuất, sửa chữa VKTBKT. Tăng cường mọi nguồn lực, tập trung đầu tư thực hiện các đề án phát triển những lĩnh vực mũi nhọn của CNQP nhằm làm chủ các công nghệ nền, công nghệ lõi, công nghệ chiến lược để hiện thực hóa khát vọng “vươn xa ra biển lớn, tiến sâu vào lòng đất, lòng biển và bay cao lên vũ trụ”; nghiên cứu, sản xuất thành công các nhóm VKTBKT theo Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển CNQP đến năm 2030 và những năm tiếp theo, nhất là các loại VKTBKT hiện đại, có ý nghĩa chiến lược, tăng uy lực, sức cơ động, tự động hóa, thông minh và khả năng tác chiến trong các môi trường khác nhau; xây dựng các giải pháp, công cụ kiểm soát hiệu quả chủ quyền của Việt Nam trên không gian mạng, không gian vũ trụ. Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng các công nghệ nền tảng, như: Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật, robot... trong nghiên cứu, phát triển VKTBKT.

Thứ ba, kết hợp nhiệm vụ phát triển CNQP trong chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương về phát triển CNQP; ưu tiên phát triển các lĩnh vực lưỡng dụng thuộc thế mạnh của CNQP (như cơ khí chính xác, viễn thông, chip, bán dẫn, hàng không vũ trụ, UAV gắn với kinh tế tầm thấp...) để từng bước chuyển giao công nghệ cho công nghiệp dân sinh, tạo sự dẫn dắt, lan tỏa, thực hiện mục tiêu quốc gia khởi nghiệp từ phát triển CNQP.

Đẩy mạnh hợp tác, tận dụng tối đa thế mạnh các hệ sinh thái ngoài Quân đội (đặc biệt là các hệ sinh thái về UAV, tàu, xe quân sự) để sản xuất VKTBKT. Tăng cường nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực của các thành phần kinh tế, vốn doanh nghiệp CNQP và các nguồn vốn hợp pháp khác; tăng tính lưỡng dụng trong các dự án phát triển CNQP.

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế có chọn lọc, triển khai hiệu quả các hình thức hợp tác, chuyển giao công nghệ để phát triển các loại VKTBKT hiện đại, có ý nghĩa chiến lược. Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá và xây dựng thương hiệu sản phẩm do CNQP sản xuất. Đẩy mạnh xuất khẩu VKTBKT, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu bảo đảm an toàn, hiệu quả.

Để thực hiện tốt 4 nhiệm vụ trụ cột đó thì vấn đề then chốt, cốt lõi là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho CNQP: Xây dựng đội ngũ cán bộ CNQP vừa “hồng”, vừa “chuyên”, có số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng ngày càng cao, có bản lĩnh chính trị, kỷ luật, tiên phong, dám nghĩ, dám làm, nhất là cán bộ chủ trì các cấp, cán bộ nghiên cứu khoa học, hình thành đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư cho CNQP.

Hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ nêu trên là cơ sở quan trọng để đẩy mạnh đột phá phát triển CNQP tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, góp phần xây dựng Quân đội hiện đại, nâng cao sức mạnh chiến đấu của LLVT nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước mọi tình huống.

(còn nữa)

Trung tướng, TS Hồ Quang Tuấn, Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng

Theo Báo Quân đội Nhân dân

Chia sẻ bài viết