24/04/2008 - 21:05

“Thầy Tạc Lùn”

Thầy Tạc đang vá lưới.

“Thầy Tạc Lùn” là cái tên mà người dân ở ấp Trà Gút, xã Đại Phước, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh quen gọi ông bởi cái dáng vẻ bề ngoài. Mọi người không có ý dè bỉu ông, mà ngược lại còn rất quý trọng ông như người thân của mình. Gần trọn một đời hàn vi, cơ cực, vượt lên những mặc cảm của người dị tật, ông sống có nghĩa có tình với mọi người, góp sức mình để xây dựng xóm thôn yên ấm...

NỬA ĐỜI HÀN VI

Những năm đầu của thập niên 50, xã Đại Phước là vùng quê nghèo. Cuộc sống của người dân nơi đây chỉ biết dựa vào cây lúa mùa cấy trên đồng đất bị ngập mặn vào mùa khô. Thêm vào đó, vùng quê này còn thường xuyên gánh chịu những trận càn quét, máy bay Mỹ rải bom, nên chẳng có gia đình nào yên ổn để lo 2 bữa ăn thường nhật. Gia đình của bà Phùng Thị Tợn từ ấp Vĩnh Bão, xã Hòa Thuận, huyện Châu Thành (Trà Vinh) trở về nơi chôn nhau cắt rốn là ấp Trà Gút cũng cùng chung cảnh khó. Gia cảnh bà Tợn càng khó hơn vì chồng mất, đứa con trai chỉ mới 6 tháng tuổi, trong tay không có một cục đất cắm dùi. Mẹ góa, con côi, mái ấm của gia đình bà Tợn chỉ là căn chòi nhỏ cất nhờ trên đất của láng giềng. Bà Tợn ngày ngày đi thả lưới, giăng câu, làm bất cứ chuyện gì mà người ta thuê mướn để nuôi nấng đứa con trai Phùng Văn Tạc còn bé bỏng. Phận nghèo của mẹ con bà Tợn thật không may mắn. Chưa kịp mừng thôi nôi, đứa bé Phùng Văn Tạc đã mắc phải căn bệnh ngặt nghèo. Bà Tợn dốc hết sức mình chạy lo thuốc thang, nhưng đứa con cứ ngày qua ngày càng xanh xao, còm yếu.

Lên 15 tuổi, cậu bé Tạc chỉ cao bằng đứa bé bình thường lên 5 và mặt mày đầy vết sẹo. Bị dị dạng nên nhiều đứa trẻ trong xóm trêu chọc, gọi Tạc là “Tạc Lùn”. Buồn và mặc cảm, Tạc thui thủi một mình, quấn quít bên mẹ, không vui đùa cùng bọn trẻ trong xóm. Điều mà Tạc thích nhất là những con chữ. Gặp ai Tạc cũng hỏi những chữ cái A, B, C và nhờ dạy cách ráp vần. Đêm nào Tạc cũng đến lớp bình dân học vụ trong ấp để lén nhìn và nghe thầy Năm Tròn dạy học. Thấy thằng bé tật nguyền mà ham học nên thầy Năm Tròn thương mến, nhận làm học trò. Kể từ đó, đêm đêm bất kể mưa gió Tạc đều xách đèn dầu đến lớp. Năm tháng miệt mài, cậu học trò tật nguyền cũng học được đến lớp 5. Cuối năm 1967, khi khắp chiến trường miền Nam, chuẩn bị Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968, học trò của lớp bình dân học vụ do thầy Năm Tròn phụ trách dần dần lên đường nhập ngũ, lớp học bị giải tán. Cậu học trò Phùng Văn Tạc tiếp tục những tháng ngày sống bên mẹ, giúp mẹ việc nhà...

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, phong trào người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ được phát động rộng khắp ở vùng nông thôn. Nhân dân người có tre, người có lá cùng nhau cất nên những ngôi trường đơn sơ để đem cái chữ đến cho con em mình. Trong phong trào đó, ở xã Đại Phước xuất hiện một thầy giáo mà chiều cao chỉ bằng đứa trẻ lên 8, ngày ngày đến lớp dạy chữ. Cũng từ đó, cái tên “Thầy Tạc Lùn” luôn được mọi người nhắc đến và dành cho ông một tình cảm thương mến, quý trọng. Thầy Tạc biết chữ nào dạy cho học trò của mình chữ ấy. Đồng lương là lon gạo, con cá, mớ rau vậy mà thầy Tạc vui lắm. Đáp lại tình cảm của mọi người thầy Tạc thường động viên mọi người rằng: “Lúc trước, còn bom, còn súng đạn, mỗi lần địch càn quét, thấy các quyển tập, cây viết... chúng đốt hết, vậy mà còn học được. Bây giờ, đã giải phóng mà các em không học, không biết chữ thì tội lắm!”.

Thầy Tạc rất yêu nghề, nhưng chỉ dạy học trò đến biết đọc, biết viết là phải chia tay, vì thầy đã hết chữ.

Năm 1978, vùng quê Đại Phước bị thất mùa, nhiều gia đình phải ăn độn khoai lang cùng với bo bo. Gia đình thầy Tạc cũng thế. Lúc đó, hễ làm nghề nào chân chính, phù hợp với sức khỏe thì thầy Tạc làm ngay. Nhớ lại những năm khó khăn ấy, ông Dương Văn Chanh, ở cùng ấp kể: “Thầy Tạc là người con hiếu thảo. Lúc chị Mười (mẹ thầy Tạc) già yếu, thầy đi giăng câu, thả lưới, đặt trúm bắt lươn... việc gì cũng làm để chăm lo cho mẹ. Thầy Tạc được một người hàng xóm nhượng lại một chiếc xuồng nhỏ để làm phương tiện đi giăng câu, thả lưới. Mỗi lần xuống xuồng, đâu có ai ngồi ở đầu lái, thầy phải dằn một cục đá to độ 10-15 kg sau lái cho chiếc xuồng cân bằng. Cứ vậy, rồi ngồi đằng mũi xuồng sử dụng cây dầm mà bơi. Ngày đêm thầy Tạc gắn liền với chiếc xuồng và con rạch Trà Gút để tìm đồng tiền, chén gạo”.

NỬA ĐỜI MẬT NGỌT

Mẹ mất. Thầy Tạc sống một mình trong căn chòi lá do bà con chòm xóm dựng cho. Gia đình bà con nào trong ấp, trong xã có ma chay là đều có mặt thầy Tạc thức trắng đêm để chia sẻ nỗi buồn. Nhà ai hư hỏng cần cất lại thì có mặt thầy Tạc phụ một tay... Bởi đối với thầy Tạc, láng giềng tối lửa tắt đèn là phải có nhau. Thầy Tạc làm nhiều nghề nhưng vẫn thiếu trước hụt sau. Năm 1980, có người giới thiệu cho thầy Tạc đến xã Đức Mỹ (cùng huyện Càng Long) theo học nghề dệt chiếu, để có cuộc sống khá hơn. Cũng chính nơi đây, thầy Tạc có được niềm hạnh phúc ngọt ngào. Thấy thầy Tạc tuy xấu người nhưng hiền lành, tốt bụng nên cô gái dệt chiếu làng Đức Mỹ là Trịnh Thị Nương đem lòng mến thương và cùng với thầy Tạc nên chồng nên vợ. Thầy Tạc kể: “Mình xấu xí lại gần 40 tuổi, được cô gái để ý đến, tôi ngỏ lời yêu mà run rụng rời y như con cua bị nướng trên đống than hồng vậy!”.

Đám cưới của thầy Tạc rất đơn sơ, chỉ có hai con vịt và mười mấy người hàng xóm quây quần xúm lại. Từ đó, người ta thấy căn nhà nhỏ ngày nào vắng vẻ, giờ có thêm tiếng cười. Thầy đi giăng câu, thả lưới không còn phải dằn cục đá to sau lái vì đã có đôi. Khi được con tôm, con cá cũng không phải làm phiền chị Hai gần nhà đem bán. Rồi hạnh phúc cũng đến ngày đơm hoa kết trái. Ba năm sau, thầy Tạc có được hai đứa con gái bụ bẫm.

Năm 2003, trong một cơn bạo bệnh, vợ Thầy Tạc đã qua đời. Hai đứa con gái trưởng thành, hiếu thuận, phụng dưỡng cha mình thật chu đáo. Nhờ đức độ, hiền lành của người cha và sự cần cù khéo léo của người mẹ, tiếng thơm đồn xa, hai người con gái được người hỏi cưới. Trong năm, lần lượt cả hai đều xuất giá theo chồng. Rồi hạnh phúc của tuổi già được nhân lên. Năm sau, thầy Tạc có liền hai đứa cháu ngoại (một trai, một gái). Niềm vui tiếp nối khi chính quyền địa phương họp dân xét cất cho thầy căn nhà tình thương. Ông Nguyễn Văn Nhơn, Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng Ban nhân dân ấp Trà Gút, kể: “Buổi họp dân để bình xét khi tôi nói nếu bà con đồng ý cất nhà tình thương cho hộ Thầy Phùng Văn Tạc, xin hãy biểu quyết bằng cách đưa tay. Cả mấy chục người có mặt, không một phút chần chờ, đều đưa tay cao và hô to: Nhất trí!”. Ông Nguyễn Văn Nhơn còn cho biết thêm: “Anh Tạc nghèo tiền, nghèo bạc nhưng tình làng nghĩa xóm và trách nhiệm với chính quyền địa phương thì dư dả. Láng giềng có hữu sự anh luôn có mặt, những chỗ tụ tập bài bạc, anh biết được là liền đến để động viên, khuyên bảo người ta giải tán...”.

Bây giờ đã ở cái tuổi gần 70, sức khỏe đã yếu, thầy Tạc ở nhà nhận vá lưới, vá chài cho bà con quanh xóm. Tuy thu nhập không nhiều, bình quân mỗi ngày cũng kiếm được từ 20.000-25.000 đồng. Chừng ấy cũng đủ để xoay xở, thanh thản tuổi già. Mỗi lúc rảnh công việc, thầy đem cháu ngoại về trông coi, dạy cho cháu nói, cháu đọc.

Chia tay với chúng tôi, thầy Tạc cũng khép cửa nhà để đi đám tang của người cùng ấp vừa mới mất. Gần một đời sống trong số phận không may, ông vẫn trải lòng và cất công để đong đầy nghĩa tình làng xóm. Thế mới thấy nhân cách tốt đẹp của con người đâu chỉ ở vẻ bề ngoài.

Bài, ảnh: PHÚC SƠN

Chia sẻ bài viết